Nhận xét đặc điểm lâm sàng, siêu âm và kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Chia sẻ bài viết

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM  LÂM SÀNG, SIÊU ÂM VÀ KẾT QUẢ TẾ BÀO HỌC CỦA CHỌC HÚT KIM NHỎ DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM

TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Nguyễn Khoa Diệu Vân, Đặng Bích Ngọc

Đại Học Y Hà Nội

ABSTRACT

Background: Objectives of this study were to describe the clinical characteristic of thyroid cancer, the characteristic of thyroid cancer ultrasound and fine – needle aspiration cytology in thyroid cancer. Methods: 90 patients with thyroid nodule who had a result of fine – needle aspiration cytology malignant or suspected maglinant were involved into study. This is a descriptive cross – sectional study about the the clinical characteristic of thyroid cancer, the result of ultrasound, the result of fine – needle aspiration cytology under ultrasound guildeline and the histopathology of the patients in the endrocrinology clinic of the Bach Mai hospital from 01/2016 to 09/2016. Results: The average age was 43,72 ± 12,73 and 95,6% were female. To associate the signs ultrasound with result histopathology: 1 sign hypoechogenecity: 96,5% malignant, 2 signs hypoechogenecity and smooth margins: 98,8% malignant, 3 signs hypoechogenecity, smooth margin and irregular limit: 98,8% maglignant, 4 or more signs hypoechogenecity, smooth margin, irregular limit, microcalcifications, taller than wider, intranodular flow on a color Doppler examination: 100% malignant. Conclusions: The malignancy diagnostic values of ultrasound are hypoechogenecity, smooth margin, irregular limit, microcalcifications, taller than wider, intranodular flow on a color Doppler examination.

Key word: Ultrasoud thyroid

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích nhận xét đặc điểm lâm sàng, siêu âm và kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới dướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu các đặc điểm lâm sàng, siêu âm và kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học sau mổ của 90 BN bướu nhân tuyến giáp đến khám tại phòng khám Nội Tiết bệnh viện Bạch Mai có kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm là ác tính hoặc nghi ngờ ác tính và được theo dõi sau mổ từ tháng 1/2016 đến hết tháng 9/2016. Kết quả: UTTG gặp chủ yếu ở nữ giới, tuổi trung bình là 43,72 ± 12,73. BN đến khám chủ yếu là tình cờ phát hiện BNTG trên siêu âm. Kết quả siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp: một dấu hiệu nhân giảm âm tỉ lệ ác tính là 96,5%; 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ tỉ lệ ác tính tăng lên 98,8%; 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều tỉ lệ ác tính là 98,8%; có từ 4 dấu hiệu trở lên trong số 6 dấu hiệu sau nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, ĐK trước sau lớn hơn ĐK ngang, tưới máu trung tâm 100% là ác tính. Kết luận: Các dấu hiệu trên siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, ĐK trước sau lớn hơn ĐK ngang, tưới máu trung tâm nhân.

Từ khóa: siêu âm tuyến giáp

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Khoa Diệu Vân

Ngày nhận bài: 12.9.2017

Ngày phản biện khoa học: 17.9.2017

Ngày duyệt bài: 25.9.2017

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư tuyến giáp là ung thư của tế bào biểu mô nang giáp hoặc từ tế bào cạnh nang giáp, chiếm khoảng 1% trong số các loại ung thư và là ung thư có tiên lượng tốt nhất. Tỉ lệ mới mắc hàng năm của ung thư tuyến giáp tăng lên 2,2 – 17,9% mỗi năm [1]. Ung thư tuyến giáp thể nhú là loại ung thư chiếm tỉ lệ cao nhất trong những loại mô bệnh học của ung thư tuyến giáp (75 – 90%). Đây là loại ung thư tiên lượng tốt nhờ đặc điểm tiến triển chậm, di căn xa ít, thường hay di căn hạch vùng. Hàng năm, Hiệp hội ung thư Mỹ ước tính có 17000 ung thư tuyến giáp được chẩn đoán và có 1300 trường hợp tử vong do ung thư [2]. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán sớm và điều trị tốt thì tỷ lệ sống sót cao [2].

Điều trị kinh điển của ung thư tuyến giáp theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư UICC là cắt toàn bộ tuyến giáp, nạo vét hạch vùng cổ cùng bên tổn thương có thể kèm theo cắt cơ ức đòn chũm và tĩnh mạch hầu trong tùy theo mức độ xâm lấn của tổn thương. Khi ung thư phát hiện sớm, chưa xâm nhiễm vào cấu trúc bên cạnh, phẫu thuật cắt tuyến giáp là cách điều trị nhẹ nhàng, ít tàn phá, chăm sóc hậu phẫu đơn giản và hiệu quả điều trị cao.

Ở Việt Nam chưa có nhiều thống kê tỉ lệ ung thư tuyến giáp nói chúng trong quần thể phát hiện bằng siêu âm. Ở Mỹ, khám lâm sàng có thể phát hiện được nhân giáp ước tính 4 – 7% dân số, phụ nữ nhiều gấp 5 lần nam giới [3]. Siêu âm đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán BNTG nói chung và ung thư tuyến giáp nói riêng. Áp dụng siêu âm vào chẩn đoán thì tỉ lệ phát hiện BNTG bằng siêu âm tăng lên khoảng 10 lần so với khám lâm sàng [2],[4]. Siêu âm là một phương tiện đáng tin cậy trong chẩn đoán BNTG, giúp phát hiện các BNTG mà khám lâm sàng bỏ sót và giúp phát hiện sự thay đổi cấu trúc tuyến từ rất sớm. Siêu âm cũng đưa ra các dấu nghi ngờ ác tính của nhân giáp. Do vậy, nhiều tác giả như Lê Hồng Cúc, Blum, Douglas, Wolinski đã đề xuất nên sử dụng siêu âm như là một phương tiện sàng lọc BNTG [5],[6],[7],[8].

CHKN là kỹ thuật đơn giản, nhưng rất giá trị vì có thể cung cấp các thông tin trực tiếp và đặc hiệu về một nhân giáp. Theo AACE, đây là phương pháp “được tin tưởng là hiệu quả nhất hiện nay trong phân biệt các nhân giáp lành tính và ác tính” với độ chính xác lên tới 95%, nếu người chọc có kinh nghiệm và người đọc có trình độ [9]. Theo các nghiên cứu, kỹ thuật này có tỷ lệ âm tính giả là 1-11%, tỷ lệ dương tính giả là 1-8%, độ nhậy là 68-98%, và độ đặc hiệu là 72-100% [3].

Vì vậy, vấn đề kết hợp siêu âm và CHKN trong chẩn đoán và điều trị đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp, góp phần phát hiện các nhân giáp cần mổ sớm và các nhân giáp điều trị nội khoa và theo dõi lâm sàng.

Ở nước ta, có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh lý tuyến giáp hoặc bằng siêu âm hoặc bằng CHKN, nhưng còn ít đề tài nghiên cứu về việc kết hợp siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp và đối chiếu kết quả mô bệnh học sau mổ với lâm sàng, siêu âm trước đấy. Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhận xét đặc điểm lâm sàng, siêu âm và kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Đối tượng

90 BN bướu nhân tuyến giáp khám tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Bạch Mai và được phẫu thuật tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2016 đến hết tháng 9/2016.

– Bệnh nhân có bướu nhân tuyến giáp có kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm là ung thư tuyến giáp hoặc nghi ngờ ung thư tuyến giáp.

– Có đầy đủ các xét nghiệm: kết quả định lượng FT4, TSH, siêu âm tuyến giáp, kết quả sinh thiết tức thì trong mổ, mô bệnh học sau phẫu thuật.

– Không cường giáp, không có chống chỉ định chọc hút kim nhỏ

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu các đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học sau mổ của các bệnh nhân có kết quả tế bào học của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm là ác tính hoặc nghi ngờ ác tính của các bệnh nhân đến khám tại phòng khám Nội tiết Bạch Mai từ 1/2016 đến hết tháng 9/2016

Đánh giá lâm sàng

Hành chính: tuổi, giới, địa chỉ, ngày vào viện, mã bệnh án.

Tiền sử: tiếp xúc phóng xạ vùng đầu cổ, tình trạng bệnh lý bản thân, tình trạng bệnh lý tuyến giáp của gia đình.

Triệu chứng cơ năng:

– Thời gian phát hiện bệnh (tháng).

– Triệu chứng: tự sờ thấy khối vùng cổ, nuốt nghẹn, nuốt vướng, đau vùng cổ, khàn tiếng, khó thở, cảm giác tức nặng ở cổ, nhân giáp to nhanh.

– Các biểu hiện của hội chứng cường giáp, suy giáp.

Triệu chứng thực thể

– Tình trạng toàn thân: gầy sút, khó thở.

– BNTG: số lượng, vị trí, đường kính, mật độ, di động theo nhịp nuốt, thâm nhiễm da.

– Hạch lympho vùng cổ đi kèm.

Đánh giá kết quả siêu âm theo ATA 2015 và AACE cập nhật 2016

– Tính chất phản âm

– Kích thước nhân

– Giới hạn nhân

-Vôi hóa trong nhân

– Đánh giá tưới máu trên siêu âm Doppler

– Hạch vùng kèm theo

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả tế bào học theo ATA 2015

– Không có chẩn đoán: Không đủ bệnh phẩm.

– Lành tính

– Không định loại:

+ Tổn thương không điển hình hoặc tổn thương nang không xác định

+ U dạng nang

– Nghi ngờ ác tính

– Ác tính

Tiêu chuẩn đánh giá mô bệnh học theo tác giả Nguyễn Vượng

Lành tính: u tuyến nang, u thể bè kính hóa, bướu giáp keo

– Ác tính: thể nhú, thể nang, thể tủy, thể không biệt hóa, thể tế bào Hurth, ung thư khác (sarcoma, lymphoma)

III. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm dịch tễ học

Bệnh nhân lứa tuổi trên 31 chiếm tỉ lệ 85,6%, cao nhất là lứa tuổi 31 – 40 chiếm 30%.

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 43,72 ± 12,73. Bệnh nhân ít tuổi nhất là 17 cao nhất là 77. Nữ chiếm đa số với 95,6%

Đa số bệnh nhân đến khám do tình cờ phát hiện BNTG trên siêu âm chiếm 89,8%.

3.2. Đặc điểm siêu âm

Trong nhóm nghiên cứu, dựa vào kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật, có 87 bệnh nhân chẩn đoán ung thư tuyến giáp và có 3 bệnh nhân chẩn đoán lành tính.

Các dấu hiệu trên siêu âm trong nhóm ác tính

2.1. Tính chất phản âm của nhân giáp

Bảng 1. Phân bố tính chất phản âm

Trong nhóm nhân đặc ác tính, nhân giảm âm chiếm tuyệt đối với 83/83 BNTG chiếm 100%. Trong nghiên cứu có 4 nhân hỗn hợp âm là ác tính.

2.2. Giới hạn nhân

Bảng 2. Phân bố dấu hiệu giới hạn nhân

Trong nhóm nhân đặc ác tính, ranh giới nhân không rõ chiếm tỉ lệ nhiều nhất 97,6%. Tỉ lệ này trong nhóm nhân hỗn hợp ác tính là 100%

2.3. Tính chất bờ nhân

Bảng 3. Phân bố dấu hiệu bờ nhân

Trong nhóm nhân đặc ác tính, tỉ lệ nhân bờ không đều chiếm tỉ lệ cao nhất là 97,6%. Tỉ lệ này trong nhóm nhân hỗn hợp là 100%

2.4. Tính chất vôi hóa

Bảng 4. Phân bố dấu hiệu vôi hóa nhân

Trong nhóm nhân đặc ác tính, vi vôi hóa chiếm tỉ lệ cao nhất 90,4%. Trong nhóm nhân hỗn hợp, tỉ lệ không vôi hóa chiếm cao nhất 75%.

2.5. Tính chất hình dạng nhân

Bảng 5. Phân bố dấu hiệu hình dạng nhân

Trong nhóm nhân đặc ác tính, tỉ lệ nhân có ĐK trước sau lớn hơn ĐK ngang chiếm 49,4%. Trong nhóm nhân hỗn hợp, dấu hiệu ĐK trước sau lớn hơn ĐK ngang chiếm 50%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0.05

2.6. Tính chất tăng sinh mạch trên siêu âm Doppler

Bảng 6. Phân bố dấu hiệu tăng sinh mạch

Trong nhóm ác tính, tỉ lệ nhân không tăng sinh mạch chiếm tỉ lệ nhiều nhất , nhóm nhân đặc là 44,8%, nhóm nhân hỗn hợp là 75%.

Kết hợp các đặc điểm trên siêu âm và kết quả mô bệnh học

Bảng 7. Kết hợp các dấu hiệu trên siêu âm và mô bệnh học

Xét các dấu hiệu trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang, tăng sinh mạc trung tâm sơ với kết quả mô bệnh học

– 1 dấu hiệu nhân giảm âm tỉ lệ ác tính là 96,5% (n=86)

– 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ tỉ lệ ác tính tăng lên 98,8% (n= 82).

– 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều tỉ lệ ác tính là 98,8% (n=82).

– Có từ 4 dấu hiệu trở lên trong số 6 dấu hiệu sau nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, ĐK trước sau lớn hơn ĐK ngang, tưới máu trung tâm 100% là ác tính.

IV. BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 87/90 nhân giáp có mô bệnh học ác tính. Trong đó, có 83/87 nhân đặc ác tính và chỉ có 4 trường hợp nhân hỗn hợp ác tính.

Trong nhóm nhân đặc ác tính, tất cả đều là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều chiếm đa số 97,6%, vi vôi hóa chiếm phần lớn với 90,4%. Các dấu hiệu khác như đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang, tính chất tưới máu của nhân giáp không khác biệt rõ.

Có 50% nhân giáp có đường kính trước sau lớn đường kính ngang và 50% nhân giáp có đường kính trước sau nhỏ hơn đường kính ngang. Xét tính chất tưới máu nhân giáp, không tưới máu chiếm phần lớn 44,6% trong khi đó tưới máu trung tâm chỉ chiếm 25,3%.

Có 4 nhân hỗn hợp trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là ác tính. Số lượng nhân hỗn hợp là rất ít nên chúng tôi chỉ mô tả một số đặc điểm của nhân. Tất cả nhân hỗn hợp đều là hỗn hợp âm, ranh giới không rõ, bờ không đều trên siêu âm tuyến giáp. Dấu hiệu vi vôi hóa trong nhân chỉ chiếm 25% còn đa số là các nhân không vôi hóa. Phần lớn các nhân hỗn hợp đều không tăng sinh mạch, dấu hiệu đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang cũng chỉ chiếm 50%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng thống nhất với nghiên cứu của các tác giả khác là các dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa là dấu hiệu hay gặp nhất trong ung thư tuyến giáp. Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thu Hồng, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Thị Hoa Hồng đều kết luận các nhân giáp nghi ngờ ác tính có các dấu hiệu sau: nhân giảm âm, vi vôi hóa, bờ không đều, ranh giới không rõ [10],[11],[12].

Theo nghiên cứu của tác giả Kovacevic trên 129 BNTG đã rút ra kết luận, các dấu hiệu nhân giáp trên siêu âm liên quan nhiều đến ác tính bao gồm: nhân giảm âm, vi vôi hóa, bờ không đều, ranh giới không rõ [13]. Theo phân tích gộp của Wolinski K và cộng sự trên cơ sở dữ liệu Pubmed và thư viện Cochran, dấu hiệu nhân có đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang là dấu hiệu dự báo mạnh mẽ nhất cho ung thư tuyến giáp (OR= 13,7) nhưng độ nhậy thấp 25,9%. Dấu hiệu ranh giới không rõ, vi vôi hóa là dấu hiệu dự báo mạnh ung thư tuyến giáp với độ đặc hiệu cao lần lượt là 79,6% và 75,9% tương ứng.

Các dấu hiệu nhân giảm âm, bờ không đều, tăng sinh mạch trung tâm là yếu tố dự báo trung bình cho nguy cơ ác tính của nhân giáp [8].

Xét 1 dấu hiệu nghi ngờ ác tính là nhân giảm âm, trong nghiên cứu của chúng tôi có 86 nhân giáp, trong số đó ác tính chiếm tỉ lệ 96,5%. Xét 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, nghiên cứu của chúng tôi có 82 trường hợp trong số này 98,8% là ác tính. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 82 trường hợp nhân giáp có 3 dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều. Tỉ lệ ác tính trong nhóm này là 98,8%. Có từ 4 dấu hiệu trở lên trong số 6 dấu hiệu sau: nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, đường kính trước sau lơn hơn đường kính ngang, tăng sinh mạch trung tâm thì tỉ lệ ác tính là 100%. Như vậy, các dấu hiệu siêu âm nghi ngờ ác tính trong nghiên cứu của chúng tôi là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang, tăng sinh mạch trung tâm nhân.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của các tác giả trong nước và thế giới. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa Hồng, các dấu hiệu siêu âm nghi ngờ ác tính là nhân đặc hoặc nhân hỗn hợp, nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa [12]. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tuấn các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, tăng sinh mạch trung tâm [10]. Theo tác giả Trịnh Thị Thu Hồng, các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm là phản âm kém, vi vôi hóa, bờ không đều và có hạch cổ [11].

Theo tác giả Franco Uliaque nghiên cứu trên 321 nhân giáp đã kết luận các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm là vi vôi hóa, tăng sinh mạch trung tâm và nhân giảm âm [14]. Theo nghiên cứu của tác giả Ram N và cộng sự trên 101 BN kết luận các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm là vi vôi hóa (độ nhậy 80%, độ đặc hiệu 68%), nhân giảm âm (độ nhậy 80% và độ đặc hiệu 52%), ranh giới không rõ (độ nhậy 40% độ đặc hiệu 96%), đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang (độ nhậy 50% và độ đặc hiệu 63%) [15].

Tác giả Majstorov cũng nhận định các dấu hiệu siêu âm liên quan đến ác tính là nhân giảm âm, vi vôi hóa, tăng sinh mạch trung tâm, ranh giới không rõ. Trong đó độ nhậy cao nhất là nhân giảm âm, độ đặc hiệu cao nhất là dấu hiệu vi vôi hóa và tăng sinh mạch trung tâm [16].

Tác giả Blum M cũng thống nhất các dấu hiệu nhân giáp nghi ngờ ác tính trên siêu âm bao gồm đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang (độ nhậy thấp 40% nhưng độ đặc hiệu 90%), nhân giảm âm (độ nhạy 44,2% và độ đặc hiệu 92,2%), vi vôi hóa (độ nhậy 83,3% và độ đặc hiệu 74%) [6].

Theo hướng dẫn của AACE cập nhật năm 2016, khi có đủ 5 dấu hiệu nghi ngờ siêu âm thì dự đoán tỉ lệ ác tính là 50 – 90% [9]. Theo hướng dẫn của hiệp hội tuyến giáp British cho quản lý các ung thư tuyến giáp cũng đồng thuận các dấu hiệu siêu âm nghi ngờ ác tính là nhân đặc, giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa (ung thư tuyến giáp thể nhú), vôi hóa dạng vỏ trứng (ung thư tuyến giáp thể tủy), đường kính trước sau > đường kính ngang, tăng sinh mạch trung tâm [9].

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu chúng tối rút ra được những kết luận sau: các dấu hiệu nghi ngờ nhân giáp ác tính trên siêu âm là nhân giảm âm, ranh giới không rõ, bờ không đều, vi vôi hóa, đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang, tăng sinh mạch trung tâm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Sierra MS, Soerjomataram I, Forman D (2016). Thyroid cancer burden in Central and South America. Cancer Epidemiol, 44 Suppl 41:S150-S157.
  2. Nguyễn Thy Khê và Mai Thế Trạch (2007). Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản y học
  3. Martin Schlumberger, Furio Pacini (2006), Thyroid Tumors. 3th edition 11-63
  4. Gupta PK, Baloch ZW, Tam D et al (2010). Correlation of fine needle aspiration cytology with histopathology in the diagnosis of solitary thyroid nodule. J Thyroid Res, 2010:379051.
  5. Lê Hồng Cúc (2002). Phát hiện sớm ung thư tuyến giáp bằng siêu âm kết hợp với chọc hút tế bào bằng kim nhỏ. Tài liệu toàn văn hội nghị chẩn đoán hình ảnh và y học hạt nhân TP Hồ Chí Minh mở rộng
  6. Blum.M (2000). Ultrasonography of the Thyroid. Endotext, South Dartmouth (MA)
  7. Douglas S (2002). Non – palpable Thyroid Nodules – Managing an Epidemic. The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolisme, 1983 – 1940
  8. Wolinski K, Szkudlarek M, Szczepanek-Parulska E et al (2014). Usefulness of different ultrasound features of malignancy in predicting the type of thyroid lesions: a meta-analysis of prospective studies. Pol Arch Med Wewn, 124(123):197-104
  9. Gharib H, Papini E, Garber, J. R, et al (2016). American Association of Clinical Endocrinologists, American College of Endocrinology, and Associazione Medici Endocrinologi Medical Guidelines for Clinical Practice for the Diagnosis and Management of Thyroid Nodules–2016 Update. Endocr Pract, 22(5), 622-639.
  10. Trần Văn Tuấn và Nguyễn Đình Tùng (2010). Khảo sát hình ảnh siêu âm và chọc hút tế bào kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm các khối bất thường tuyến giáp tại bệnh viện trung ương Huế. Y học thành phố Hồ Chí Minh, 14(14), 518.
  11. 11. Trịnh Thị Thu Hồng và Vương Thừa Đức (2010). Giá trị siêu âm trong dự đoán ung thư bướu giáp đa nhân. Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 55-59.
  12. 12. Nguyễn Thị Hoa Hồng (2012). Đặc điểm lâm sàng, siêu âm, tế bào học và kết quả mô bệnh học của bướu nhân tuyến giáp, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Trường đại học Y Hà Nội
  13. Kovacevic DO, Skula MS (2007). Sonographic diagnosis of thyroid nodules: correlation with the results of sonographically guided fine-needle aspiration biopsy. J Clin Ultrasound., 35(32):63-37.
  14. Franco Uliaque C, Pardo Berdún FJ, Laborda Herrero R, et al (2006). Usefulness of ultrasonography is the evaluation of thyroid nodules. Radiologia, 58(55):380-388.
  15. Ram N, Haffez S, Qamar S, et al (2015). Diagnostic validity of ultrasonography in thyroid nodules. J Pak Med Assoc, 65(68):875-878.
  16. Majstorov. V (2015). Ultrasonographic Findings in Patients with Benign and Malignant Thyroid Nodules who underwent Ultrasound Guided Fine Needle Aspiration Cytology. Open Access Maced J Med Sci, 3(4):689-693.
Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Cập nhật chẩn đoán và điều trị tiền đái tháo đường

Chia sẻ bài viếtCẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Nguyễn …