Nhận xét một số yếu tố liên quan với acid uric máu: tuổi, giới và các thành tố của hội chứng chuyển hóa

Chia sẻ bài viết

NHẬN XÉT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI ACID URIC MÁU:

TUỔI, GIỚI VÀ CÁC THÀNH TỐ CỦA HỘI CHỨNG CHUYỂN HOÁ

Đỗ Trung Quân, Triệu Kim Thủy

Bộ môn nội tổng hợp, Đại học Y Hà Nội

ABSTRACT

Objective: to investigate the relationship between blood level of uric acid with some factors such as: age, sex and some factor of metabolic syndrome. Subjects: 2120 patients with metabolic syndrome in outpatient department, Bach Mai hospital from 2/2016 to 8/2016. Method: cross-sectional study. Results: The mean blood level of uric acid in young group is highest (347,7 ± 98,3µmol/l), in middle-age group is lowest (335,7 ± 87,5µmol/l). The rate of increased blood level of uric acid is highest in old group (22,4%) and lowest in middle-age group (18,8%). The mean blood level of uric acid in male is higher than in female (389,3 ± 90,2µmol/l & 296,5 ± 71,9µmol/l, p<0,001). The rate of male with increased blood level of uric acid is higher than female (27,1% & 12,8%, p<0,001). The mean blood level of uric acid in obesty group is highest (405,7 ± 88,1µmol/l), and in normal BMI is lowest (283,9 ± 70,3µmol/l). The rate of increased blood level of uric acid is highest in obesty group (42,9%) and lowest in normal BMI group (4,2%). Blood level of uric acid is positive correlatied with factors of metabolic syndrome (p< 0,001). The mean blood level of uric acid in hypertension, increased waist circumference, increased blood level of triglyceride, increased blood glucose is higher than that in normal patients. However, the mean blood level of uric acid in normal patients is higher than that in low HDL-C (p< 0,001). There is a positive correlation between blood level of uric acid and waist circumference, systolic blood pressure, diastolic blood pressure, triglyceride, BMI (in female) and slightly positive correlation between blood level of uric acid and blood glucose and BMI (in male). There is no correlation between blood level of uric acid and age, HDL-C.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét một số yếu tố liên quan với acid uric máu: tuổi, giới và các thành tố của hội chứng chuyển hoá. Đối tượng nghiên cứu: 2120 bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, bệnh viện Bạch mai trong thời gian từ tháng 2/2016 đến tháng 8/2016. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả và bàn luận: Nồng độ acid uric máu trung bình ở nhóm tuổi trẻ là cao nhất (347,7 ± 98,3µmol/l), ở nhóm tuổi trung niên là thấp nhất (335,7 ± 87,5µmol/l). Nhóm tuổi già có tỷ lệ tăng acid uric máu cao nhất (22,4%).  Nhóm tuổi trung niên có tỷ lệ tăng acid uric máu thấp nhất (18,8%).Nam giới có nồng độ acid uric máu trung bình cao hơn nữ giới (389,3 ± 90,2µmol/l& 296,5 ± 71,9µmol/l, p<0,001). Nhóm bệnh nhân nam giới có tỷ lệ tăng acid uric máu cao hơn hẳn nhóm bệnh nhân nữ (27,1% & 12,8%, p<0,001).Nồng độ acid uric máu trung bình ở nhóm béo phì là cao nhất (405,7 ± 88,1µmol/l), tiếp đến là nhóm thừa cân (346,6 ± 81,6µmol/l) và thấp nhất là ở nhóm BMI bình thường (283,9 ± 70,3µmol/l).Nhóm bệnh nhân béo phì có tỷ lệ tăng acid uric máu cao nhất (42,9%). Nhóm bệnh nhân BMI bình thường có tỷ lệ tăng acid uric máu thấp nhất (4,2%).Nồng độ acid uric máu có mối liên quan thuận với các thành tố của hội chứng chuyển hoá với p < 0,001. Nồng độ acid uric máu trung bình của các nhóm tăng huyết áp, béo bụng, tăng triglycerid, tăng glucose máu đều cao hơn hẳn so với nhóm bình thường. Tuy nhiên, nồng độ acid uric máu trung bình của nhóm HDL – C bình thường lại cao hơn nhóm có giảm HDL – C (p<0,001).Có mối tương quan thuận mức độ vừa giữa acid uric máu với vòng bụng, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, Triglycerid và BMI (ở nữ giới).Có mối tương quan thuận lỏng lẻo giữa acid uric máu với Glucose máu và BMI (ở nam giới).Không có mối tương quan giữa acid uric máu với tuổi và HDL – C.

Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Trung Quân

Ngày nhận bài: 14.9.2017

Ngày phản biện khoa học: 18.9.2017

Ngày duyệt bài: 24.9.2017

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng chuyển hóa là một trong những vấn đề sức khỏe được cộng đồng quan tâm nhất trong thế kỷ XXI này.Tần suất và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ngày càng tăng và có khuynh hướng tăng dần theo tuổi. Theo Nationnal Health Nutrition Examination Survey III (NHANES III: khảo sát dinh dưỡng và sức khỏe Quốc gia tại Hoa Kỳ) tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở độ tuổi trên 20 là 25%, gia tăng trên 45% ở độ tuổi trên 50. Hội chứng chuyển hóa liên quan đến khoảng 24% người trưởng thành, khoảng 47 triệu người bị hội chứng chuyển hóa trong đó 44% người trên 50 tuổi tại Hoa Kỳ. Hội chứng chuyển hóa gặp ở 10% phụ nữ và 15% nam giới với dung nạp glucose bình thường và gặp ở 84% người bị đái tháo đường type 2 [1],[2].Acid  uric máu (AUM) là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa purin ở người. Các nghiên cứu dịch tễ trước đây đã chứng minh sự tăng acid uric máu gắn liền với tăng nguy cơ huyết áp cao [3],  bệnh tim mạch [3],[4] và bệnh thận mãn tính [5]. Tăng nồng độ acid uric máu còn là yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh động mạch ngoại vi [6]. Nhiều bằng chứng cho thấy acid uric máu có thể có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của hội chứng chuyển hoá và đái tháo đường.

Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng acid uric máu có thể đóng vai trò nhân quả trong sự phát triển của hội chứng chuyển hoá và giảm nồng độ acid uric máu có thể ngăn chặn hoặc làm đảo ngược các thành phần của hội chứng chuyển hoá. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối liên quan giữa acid uric máu và hội chứng chuyển hoá còn khá khiêm tốn. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:

Nhận xét một số yếu tố liên quan với acid uric máu: tuổi, giới và các thành tố của  hội chứng chuyển hóa.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: 2120 bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá (HCCH) khám và điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh theo yêu cầu, bệnh viện Bạch Mai

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chẩn đoán có hội chứng chuyển hoá  dựa theo tiêu chuẩn của  NCEP-ATP III (2005) dành cho người châu Á bao gồm các tiêu chí sau (chẩn đoán khi có ≥ 3/5 tiêu chí).

  1. Béo bụng: chu vi vòng eo ≥ 90 cm (nam); ≥ 80 cm (nữ).
  2. Huyết áp tâm thu/ Huyết áp tâm trương ≥ 130/85 mmHg.
  3. TG ≥ 1,7 mmol/L.
  4. HDL-C < 1,0 mmol/L (nam); < 1,3 mmol/L (nữ).
  5. Nồng độ glucose máu lúc đói ≥ 100 mg/dl (≥ 5,6 mmol/l).

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân mắc các bệnh:

  • Nội tiết: Hội chứng Cushing, cường giáp, suy giáp, đái tháo nhạt.
  • Đang bị nhiễm khuẩn hoặc bệnh cấp tính nặng hoặc các bệnh máu ác tính.
  • Bệnh nhân bị suy gan nặng, suy thận nặng (MLCT < 30 ml/phút) hoặc đang nhiễm khuẩn tiết niệu.
  • Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định và đang điều trị Gout.
  • Đang điều trị thuốc làm thay đổi nồng độ acid uric như thuốc lợi tiểu, cyclosporine hoặc buổi tối trước hôm xét nghiệm ăn thức ăn giàu purin như nội tạng động vật, thịt thú rừng, trứng cá, hải sản, các sản phẩm từ thịt lên men: nem chua…

– Nghiện rượu.

Phương pháp nghiên cứu:

*Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, thời gian lấy mẫu từ tháng 2/2016 đến tháng 9/2016, tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Bạch Mai

*Các đối tượng nghiên cứu được hỏi, thăm khám lâm sàng và làm bệnh án theo mẫu thống nhất.

Các biến số nghiên cứu

– Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

+ Họ tên, tuổi, giới

+ Nghề nghiệp

+ Tiền sử  bản thân: đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, Gout.

+ Tiền sử gia đình: có người mắc đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, bệnh tim mạch sớm.

– Các chỉ số nhân trắc học: chiều cao, cân nặng, vòng bụng, huyết áp.

– Các kết quả xét nghiệm máu: acid uric, đường máu lúc đói, triglycerid, HDL – C.

Xử lý số liệu:

Phần mềm SPSS 16.0

III. KẾT QUẢ

3.1. Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu và các nhóm tuổi.

3.1.1. Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu trung bình và các nhóm tuổi.

Bảng 3.1. Nồng độ acid uric máutrung bình và các nhóm tuổi.

3.1.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric máu và các nhóm tuổi.

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ tăng acid uric máu và các nhóm tuổi.

Chi2 test: p>0,05.

3.2. Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu và giới tính

3.2.1. Nồng độ trung bình acid uric máu và giới tính.

Bảng 3.2. Nồng độ trung bình acid uric máu và giới tính.

3.2.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric máu và giới tính.

Biểu đồ 3.2. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric máu và giới tính.

Chi2 test: p<0,001

3.3. Liên quan giữa nồng độacid uric máuvà chỉ số khối cơ thể (BMI).

3.3.1. Nồng độ acid uric máutrung bình và BMI.

Bảng 3.3. Nồng độ acid uric máu trung bình và BMI.

3.3.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric máu và BMI.

Biểu đồ 3.3. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric máu và BMI

Chi2 test: p<0,001

3.4. Mối liên quan giữa acid uric máu và các thành tố của hội chứng chuyển hoá

3.4.1. Liên quan giữa các thành phần của hội chứng chuyển hóa và các nhóm nồng độ acid uric máu.

Bảng 3.4. Mối liên quan giữa các thành phần của hội chứng chuyển hóa
và các nhóm nồng độ acid uric máu

Nồng độ acid uric máu được chia thành 4 nhóm theo tứ phân vị của acid uric

3.4.2. Liên quan giữa các thành phần của HCCH và nồng độ acid uric máu trung bình.

Bảng 3.5. Liên quan giữa các thành phần của hội chứng chuyển hoá và nồng độ AUMTB

3.4.3. Liên quan giữa các thành phần của hội chứng chuyển hoá và  tỷ lệ tăng acid uric máu

Bảng 3.6. Mối liên quan giữa tăng  huyết áp và tỷ lệ tăng acid uric máu

Bảng 3.7. Mối liên quan giữa béo bụng và tỷ lệ tăng acid uric máu

Bảng 3.8. Mối liên quan giữa tăng Triglycerid và tỷ lệ tăng acid uric máu

Bảng 3.9. Mối liên quan giữa tăng Glucose máu và tỷ lệ tăng acid uric máu

Bảng 3.10. Mối liên quan giữa giảm HDL – C và tỷ lệ tăng acid uric máu

3.4.4.Tương quan giữa nồng độ acid uric máu  với các thành tố của hội chứng chuyển hoá

Bảng 3.11. Tương quan giữa acid uric máu và một số yếu tố theo giới


Biểu đồ 3.4. Mối tương quan giữa AUM  và HATTh.

Biểu đồ 3.5. Mối tương quan giữa AUM  vàvòng bụng.

Biểu đồ 3.6. Mối tương quan giữa AUM  và triglycerid

IV. BÀN LUẬN

4.1. Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với tuổi và giới

Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với tuổi:

Nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân được chia thành các nhóm tuổi trẻ, trung niên và già, kết quả nghiên cứu cho thấy:Nồng độ acid uric máu trung bình ở nhóm tuổi trẻ là cao nhất (347,7 ± 98,3µmol/l), ở nhóm tuổi trung niên là thấp nhất (335,7 ± 87,5µmol/l). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Nghiên cứu của Ju Mi Lee và cộng sự (2012) cho thấy ở nam giới nồng độ acid uric máu cao gặp ở lứa tuổi trẻ, nhưng với nữ giới thì ngược lại nồng độ acid uric máu cao lại có xu hướng kết hợp với tuổi già [7].Tỷ lệ tăng acid uric máu  giữa các nhóm tuổi là không có sự khác biệt, p > 0,05. Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu của các tác giả khác như Anthonia Ogbera và cộng sự (2010), Qin Li và cộng sự (2011). Khi xem xét mối tương quan giữa nồng độ AUM  với tuổi, chúng tôi tính được hệ số tương quan r = – 0,09 (nam giới), r= 0,17 (nữ giới); p < 0,05. Kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy nồng độ acid uric máu không có tương quan với tuổi. Kết quả này tương đồng so với một số nghiên cứu khác như  Conen D và cs  khảo sát mặt cắt ngang trên một dân số ngẫu nhiên 1.011 đối tượng tuổi từ 25 – 64 tuổi, r = 0,135 [8].

* Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với giới tính:

Khi xét mối liên quan với giới tính thì chúng tôi thấy rằng nam giới có nồng độ acid uric máu trung bình cao hơn nữ giới (389,3 ± 90,2µmol/l so với 296,5 ± 71,9µmol/l). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. Tỷ lệ tăng acid uric máu ở nhóm bệnh nhân nam cao hơn hẳn nhóm bệnh nhân nữ (27,1% so với 12,8%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. Nguyễn Văn Hoàng và cộng sự (2013) khảo sát trên 305 bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hoá, nồng độ trung bình acid uric máu ở nam 391,65±110,42µmol/l cao hơn nữ 296,57± 101,97µmol/l, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Tuy nhiên tỷ lệ tăng nồng độ acid uric máu ở  bệnh nhân nam (15,41%) cao hơn nữ (13.77%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 [13].Trần văn Trung và cộng sự (2009), khi khảo sát 97 bệnh nhân đái tháo đường 2 nồng độ trung bình acid uric máu  giữa nam và nữ lần lượt là 435,1 ± 32,1µmol/l/; 346,42 ± 24,6µmol/l,  tỷ lệ tăng  acid uric máu  giữa nam và nữ lần lượt là 30,93% và 19,59%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01[9].Nghiên cứu của S Bonakdaran và cộng sự (2011) thấy nồng độ acid uric máu trung bình ở nam giới là 293 ± 81,6µmol/l, ở nữ là 258 ± 74,4µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Và thấy rằng ở tứ phân vị thứ tư thì tỷ lệ tăng acid uric máu ở nam cao hơn hẳn nữ giới (p < 0,001) [10].Các nghiên cứu trên được thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau nên kết quả tỷ lệ mắc tăng acid uric máu và nồng độ trung bình acid uric máu khác nhau và khác với kết quả nghiên cứu của tôi. Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu trên đều có điểm tương đồng đó là tỷ lệ tăng acid uric máu và nồng độ trung bình acid uric máu ở nam giới cao hơn nữ giới. Điều này có thể được giải thích là do thói quen ăn uống và nội tiết tố khác nhau giữa nam và nữ.

4.2. Liên quan giữa nồng độ acid uric máu với chỉ số khối cơ thể (BMI)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng nồng độ acid uric máu trung bình ở nhóm béo phì là cao nhất (405,7 ± 88,1µmol/l), tiếp đến là nhóm thừa cân (346,6 ± 81,6µmol/l) và thấp nhất là ở nhóm BMI bình thường (283,9 ± 70,3µmol/l). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Nhóm bệnh nhân béo phì có tỷ lệ tăng acid uric máu cao nhất (42,9%). Nhóm bệnh nhân BMI bình thường có tỷ lệ tăng acid uric máu thấp nhất (4,2%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Khi xem xét mối tương quan tuyến tính giữa acid uric máu và BMI cho thấy acid uric máu có tương quan thuận với BMI với r = 0,48 (nam giới), r = 0,59 (nữ giới);  p < 0,05. Vũ Thị Thanh Huyền và cộng sự (2014) nghiên cứu trên 551 bệnh nhân đái tháo đường typ2 cao tuổi có hội chứng chuyển hoácũng cho thấy rằng nồng độ acid uric máu trung bình của nhóm thừa cân và béo phì là cao nhất (358,20 ± 85,5 µmol/l), nhóm bệnh nhân gầy có nồng độ acid uric máu trung bình thấp nhất 307,2 ± 91,9 µmol/l và có sự tương quan thuận giữa acid uric máu và BMI với r = 0,138; p = 0,001[11]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hằng (2011), cũng cho thấy có sự tương quan thuận vừa phải giữa nồng độacid uric máu và BMI (r= 0,42; p<0,001) .Như vậy, rõ ràng có mối liên quan thuận giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) với nồng độ acid uric máu  ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá. BMI càng cao thì nồng độ acid uric máu càng cao.

4.3. Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với các thành tố của hội chứng chuyển hoá

  • Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với huyết áp:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân tăng huyết áp (THA) có nồng độ acid uric máu  trung bình là 354,5 ± 92,0µmol/l cao hơn hẳn so với nhóm không tăng huyết áp là 266,9 ± 65,2 µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Khi xem xét mối liên quan giữa tăng huyết áp và tỷ lệ tăng acid uric máu, chúng tôi thấy nhóm bệnh nhân có tăng huyết áp tỷ lệ tăng acid uric máu cao hơn nhóm không tăng huyết áp (22,6 % so với 2,4%), sự  khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Người mắc hội chứng chuyển hoá có tăng acid uric máu thì nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 12 lần so với nhóm có nồng độ acid uric máu bình thường (OR = 12,0; 95% CI = 5,67 – 30,27).

Về mức độ tương quan tuyến tính giữa acid uric máu với huyết áp, chúng tôi nhận thấy:

Acid uric máu – huyết áp tâm thu:

ở nam giới   : r = 0,66, p < 0,001

ở nữ giới      : r = 0,63, p < 0,001

Acid uric máu – huyết áp tâm trương:

ở nam giới   : r = 0,51, p < 0,001

ở nữ giới      : r = 0,55, p < 0,05

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận mức độ vừa giữa acid uric máu với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trường ở cả 2 giới. Kết quả này tương đồng với rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới.Nguyễn Văn Hoàng và cộng sự (2013) khảo sát mối liên quan giữa acid uric máu với hội chứng chuyển hoátrên 305 bệnh nhân, cho thấy acid uric máu có mối tương quan thuận đáng kể với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương (r = 0,5 p < 0,001 và r = 0,4 p < 0,001).  Nồng độ trung bình acid uric máu nhóm tăng huyết áp cao hơn nhóm không tăng huyết áp (367,82±113,53µmol/l so với 273,17±91,1µmol/l), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với p < 0,0001 [13].Nghiên cứu của Lu và cộng sự (2012), có 13.345 đối tượng được khảo sát cho thấy acid uric máu  tương quan thuận với huyết áp tâm thu / huyết áp tâm trương ở cả 2 giới nam / nữ lần lượt là (r= 0,192 p=0,01 ) / (r= 0,15 p= 0,01) [12]. S.Bonakdaran và cộng sự (2011) nghiên cứu trên 1275 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cho thấy  mối liên quan thuận giữa nồng độ acid uric máu và tăng huyết áp. Tỷ lệ tăng huyết áp tăng lên trong các tứ phân vị của axid uric, p <0,001[10].Rõ ràng tăng huyết áp có mối liên quan chặt chẽ với tăng acid uric máu. Nồng độ acid uric máu cao ở bệnh nhân tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu về mối tương quan giữa nồng độ acid uric máu với huyết áp trên nhiều đối tượng khác nhau nhưng có cùng kết quả. Nghiên cứu chúng tôi cùng tương đồng với các nghiên cứu khác đó là mối tương quan thuận giữa acid uric máu và huyết áp, trị số huyết áp càng cao thì nồng độ acid uric máu càng tăng. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng bệnh nhân tăng huyết áp có tăng acid uric máu có nguy cơ bệnh mạch vành, bệnh mạch não gấp 3-5 lần so với không tăng acid uric. Tăng acid uric máu được quan sát thấy ở 25-60% bệnh nhân tăng huyết áp không điều trị và gần 90% ở người cao tuổi tăng huyết áp. Điều trị giảm acid uric máu bằng nhóm ức chế xanthin có tác dụng hạ huyết áp. Tăng acid uric máu sẽ tiên đoán làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân suy tim, bệnh động mạch vành và đái tháo đường. Bệnh nhân bệnh mạch vành tăng acid uric máu có nguy cơ tử vong tăng gấp 5 lần. Với mỗi mức tăng 1mg/dl acid uric máu tương ứng với tăng 26% tử vong. Ở bệnh nhân đái tháo đường tip 2 có tăng acid uric, tần suất đột quỵ và tử vong chung cũng như tử vong do đột quỵ đều gia tăng. Cơ chế gây tăng huyết áp của acid uric máu rất phức tạp và chưa hoàn toàn biết rõ, có thể do acid uric máu tăng kéo dài gây ra rối loạn nội mô, tăng sinh tế bào cơ trơn mạch máu, kích hoạt hệ renin – angiotensin, bệnh vi mạch cầu thân, co mạch dẫn đến tăng huyết áp.

  • Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với vòng bụng:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân béo bụng có nồng độ acid uric máu  trung bình là  343,7 ± 93,2µmol/l cao hơn nhóm không béo bụng là  264,7 ± 90,9 µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Khi xem xét mối liên quan giữa béo bụng và tỷ lệ tăng acid uric máu, chúng tôi thấy nhóm bệnh nhân có béo bụng tỷ lệ tăng acid uric máu cao hơn nhóm không béo bụng (20,1% so với 5,4%), sự  khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,01. Người mắc hội chứng chuyển hoá có tăng acid uric máu thì nguy cơ béo bụng cao gấp 4,4 lần so với nhóm có nồng độ acid uric máu bình thường (OR = 4,4; 95% CI = 1,12 – 37,94).

Về mức độ tương quan tuyến tính giữa acid uric máu với vòng bụng, chúng tôi nhận thấy:

Ở nam giới  : r = 0,57, p < 0,001

Ở nữ giới     : r = 0,7, p < 0,001

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận vừa phải giữa acid uric máu với vòng bụng ở cả 2 giới, tuy nhiên ở nữ giới mức độ tương quan chặt hơn ở nam. Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác trên các đối tượng và phương pháp tính  khác nhau: Vũ Thị Thanh Huyền và cộng sự (2014) nghiên cứu trên 551 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng chuyển hoá cho thấy nhóm bệnh nhân béo bụng có nồng độ acid uric máu trung bình cao hơn nhóm có vòng bụng bình thường. acid uric máu có mối tương quan thuận vừa phải với vòng bụng (r = 0,227, p < 0,001) [11].Nghiên cứu của Lu và cộng sự (2012),có 13.345 đối tượng được khảo sát cho thấy vòng bụng tương quan thuận với acid uric máu ở cả 2 giới nam và nữ lần lượt là (r= 0,185; p=0,01 ) và (r= 0,512; p= 0,01) [12].Béo phì thông qua vòng bụng không ngừng gia tăng trên thế giới đặc biệt ở các nước phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Tăng vòng bụng và béo phì là tiền thân của bệnh tim mạch và tiểu đường. Béo phì  ảnh hưởng trên chuyển hóa acid uric máu gồm tăng sản xuất acid uric máu và giảm đào thải  acid uric máu ở thận do ảnh hưởng của tăng insulin máu thứ phát.

  • Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với Glucose máu:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân tăng glucose máu  có nồng độ acid uric máu  trung bình là 393,7 ± 91,3µmol/l cao hơn nhóm không tăng glucose máu là 296,2 ± 68,6µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Khi xem xét mối liên quan giữa glucose máu và tỷ lệ tăng acid uric máu, chúng tôi thấy nhóm bệnh nhân có tăng glucose máu tỷ lệ tăng acid uric máu cao hơn nhóm không tăng  glucose máu (34,9% so với 6,4%), sự  khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001. Người mắc hội chứng chuyển hoá có tăng acid uric máu thì nguy cơ tăng glucose máu cao gấp 7,9 lần so với nhóm có nồng độ acid uric máu bình thường (OR = 7,9; 95% CI = 5,98 – 10,52).Về mức độ tương quan tuyến tính giữa acid uric máu với glucose máu, chúng tôi nhận thấy:

Ở nam giới  : r = 0,37,p < 0,001

Ở nữ giới     : r = 0,32,p < 0,001

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận lỏng lẻo giữa acid uric máu với glucose máu ở cả 2 giới và mức độ tương quan ở 2 giới là gần như nhau. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề  cập đến mối liên quan giữa acid uric máu với glucose máu nhưng kết quả không rõ ràng. Nguyễn Văn Hoàng và cộng sự (2013), khảo sát mối liên quan giữa acid uric máu với hội chứng chuyển hoá trên 305 bệnh nhân cho thấy nồng độ acid uric máu có sự tương quan nghịch với glucose máu (r = -0,3; p <0,001) [13].Lê Thanh Hải và cộng sự (2008), khi khảo sát trên 143 bệnh nhân cho thấy nồng độ acid uric máu không có tương quan với glucose máu lúc đói (r: -0,123; p>0,05) [14].Nghiên cứu của Nan H và cộng sự (2007), acid uric máu tăng ở giai đoạn tiền đái tháo đường 2, nhưng giảm ở giai đoạn đái tháo đường 2 [15]. Giải thích cho mối quan hệ này là: Khi bị đái tháo đường, glucose máu tăng cao, gây ức chế tái hấp thu acid uric máu ở ống lượn gần dẫn đến giảm acid uric máu.Tóm lại mối quan hệ giữa acid uric máu và Glucose máu rất phức tạp, có nhiều kết luận rất khác nhau, đối lập nhau và ngay cả khác nhau giữa 2 giới do đó cần có những nghiên cứu lớn để xác định mối quan hệ này.

  • Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với Triglycerid (TG):

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân tăng Triglycerid  có nồng độ acid uric máu  trung bình là 366,9 ± 85,4µmol/l cao hơn nhóm không tăng triglyceride là 260,4 ± 71,1µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Khi xem xét mối liên quan Triglycerid và tỷ lệ tăng acid uric máu, chúng tôi thấy nhóm bệnh nhân có tăng Triglycerid tỷ lệ tăng acid uric máu cao hơn nhóm không tăng Triglycerid (25,1% so với 2,2%), sự  khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Người mắc hội chứng chuyển hoá có tăng acid uric máu thì nguy cơ tăng Triglycerid cao gấp 14,6 lần so với người có nồng độ acid uric máu bình thường ( OR = 14,6, 95% CI = 7,97 – 29,71).Về mức độ tương quan tuyến tính giữa acid uric máu với Triglycerid, chúng tôi nhận thấy:

Ở nam giới  : r = 0,52, p < 0,001.

Ở nữ giới     : r = 0,71, p < 0,001.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận mức độ vừa giữa acid uric máu với Triglycerid ở cả 2 giới, mức độ tương quan ở nữ giới chặt hơn ở nam giới. Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác trên các đối tượng và phương pháp tính  khác nhau:Conen D và cộng sự (2004)  khảo sát mặt cắt ngang trên một dân số ngẫu nhiên 1.011 đối tượng tuổi từ 25-64 tuổi. Nồng độ acid uric máu liên quan chặt chẽ đến Triglycerid ở nam giới cũng như ở phụ nữ (r = 0,73, ở nam giới và r = 0,59 ở phụ nữ, p <0,001) [8]. Vũ Thị Thanh Huyền và cộng sự (2014) nghiên cứu trên 551 bệnh nhân đái tháo đường typ2 cao tuổi có hội chứng chuyển hoá cho thấy nồng độ acid uric máu có tương quan thuận không đáng kể với Triglycerid: r = 0,123, p <0,05. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình của nhóm tăng Triglycerid cao hơn nhóm Triglycerid bình thường. Sự khác biệt giữa các nhóm là có ý nghĩa thống kê [11].Các nghiên cứu trên được thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau nên kết quả tỷ lệ tăng acid uric máu và nồng độ trung bình acid uric máu khác nhau ở 2 nhóm đối tượng tăng triglycerid và triglycerid bình thường và khác với kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu trên đều có điểm tương đồng đó là acid uric máu có mối tương quan thuận mức độ vừa với Triglyceridở cả 2 giới nam và nữ.

  • Mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với HDL – C:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân giảm HDL – C máu  có nồng độ acid uric máu  trung bình là 314,7 ± 85,6µmol/l thấp hơn nhóm HDL – C máu bình thường là 388,1 ± 88,6µmol/l. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.Về mức độ tương quan tuyến tính giữa acid uric máu với HDL – C máu, chúng tôi nhận thấy:

Ở nam giới  : r = 0,19,p >0,05.

Ở nữ giới     : r = 0,3,p > 0,05.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan thuận khá lỏng lẻo giữa acid uric máu với HDL – C máu ở nữ giới và không tương quan ở nam giới. Kết quả này có sự khác biệt với nhiều nghiên cứu khác trên các đối tượng và phương pháp tính  khác nhau:Theo Lý Lan Chi và cộng sự (2009), nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ acid uric máu với lipid máu trên 240 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, kết quả cho thấy nồng độ acid uric máu tương quan thuận mức độ nhẹ với HDL – C: r = 0,184, p<0,05 [16].Seungho Ryu và cộng sự (2012) nghiên cứu 10,802 nam giới tuổi từ 30-59 tại Hàn quốc theo dõi từ năm 2002- 2009. Tăng acid uric máu có tương quan  nghịch với  HDL – C [17].

TÀI LIU THAM KHO

  1. Lawlor D.A., Ebrahim S., et al (2004). The metabolic syndrome and coronary heart desease in older women: findings from the British womens heart and heal the study.Diabetic Medicine, 21, 906-50.
  2. Scott M. Grundy, H. Bryan Brewer, et al (2004). Definition of metabolic syndrome Report of the National Heart, Lung, and Blood Institute/ American Heart Association Conference on Scientific Issues Related to Definition. Circulation, 109, 433-438.
  3. Fang J, Alderman MH (2000). Serum uric acid and cardiovascular mortality: the NHANES I epidemiologic follow-up study, 1971–1992.Journal of the American Medical Association, 283(18), 2404–2410.
  4. Abbas Dehghan, et al (2008). High serum uric acid as a novel risk factor for type 2 diabetes.Diabetes Care, 31(2), 361- 362.
  5. Feig D.I (2008). Uric acid and cardio vascular risk.The new England journal of medicine, 359, 1811- 1821.
  6. Shankar A, Klein R, Nieto F (2006). The association between serum uric acid level and long-term incidence of hypertension: population-based cohort study.Journal of Human Hypertension, 20(12), 937–945.
  7. Ju-Mi LeeHyeon Chang KimHye Min Cho et al (2012).Relationship Between Serum Uric Acid Levels with Metabolic Syndrome. BMC Public Health, 45(3), 181 – 187.
  8. Conen D, Wietlisbach V,  Bovet  P, et al (2004). Prevalence of hyperuricemia and relation of serum uric acid with cardiovascular risk factors in a developing country. BMC Public Health, 4, 9 – 52.
  9. Trần Văn Trung, Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Hồng Hà và cs (2009). Nghiên cứu nồng độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa Nội A BVĐK Tỉnh Bình Định. Tạp chí nội khoa, 3(1), 409-417.
  10. Bonakdaran S, Kharaqani B (2014). Association of serum uric acid and metabolic syndrome in type 2 diabetes.Curr Diabetes Rev, 10(2), 113-117.
  11. Vũ Thị Thanh Huyền và cộng sự (2014). Khảo sát nồng độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng chuyển hóa. Tạp chí nghiên cứu y học, 94 (2), 49-55.
  12. Lu W, Song K, Wang Y. et al (2012). Relationship between serum uric acid and metabolic syndrome: An analysis by structural equation modeling. Journal of clinical Lipidology, 6.159-167
  13. Nguyễn Văn Hoàng và cộng sự (2013). Khảo sát mối tương quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với các thành tố của hội chứng chuyển hóa, chỉ số Sokolow – lyon, chức năng thận. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam.
  14. Lê Thanh Hải, Lê Nhân, Hồ Thúy Mai và cs (2008). Nghiên cứu mối tương quan giữa Acid uric, Glucose và Lipid máu ở người trên 40 tuổi. Tạp chí Y Học thực hành, (616-617), 643-648.
  15. Nan Hairong, et al (2007).Diabetes associated with a low serum uric acid level in a general Chinese population.Diabetes Research and Clinical Practice, 76(1), 68- 74.
  16. Lý Lan Chi, Ngô Văn Truyền (2009). Nồng độ acid uric huyết thanh  với Lipid máu trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát.  Tạp chí y học thực hành,(682 + 683), 391-394.
  17. Ryu S, Chang Y, Zang Y, et al (2012). A Cohort Study of Hyperuricemia in Middle- aged South Korean Men. Am J Epidemiol, 175(2), pp.133-143.

 

 

 

 

 

 

Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Quản lý đái tháo đường trong đại dịch COVID-19 – GS.TS Nguyễn Hải Thủy

Chia sẻ bài viết