Đánh giá chu kỳ kinh nguyệt và thời điểm rụng trứng

Chia sẻ bài viết

Giới thiệu

Đánh giá chu kì kinh nguyệt là quan trọng và cần thiết. Một câu hỏi khá phổ biến là liệu có xác định được thời điểm rụng trứng ở người phụ nữ không, một vấn đề có thể được hỏi trong nhiều trường hợp khác nhau.

ĐÁNH GIÁ VỀ RỤNG TRỨNG

Đại cương

Có nhiều cách để đánh giá chức năng của trục Dưới đồi- Tuyến yên- Buồng trứng ở người phụ nữ với chi phí và thời điểm đánh giá khác nhau. Mỗi phương pháp giải quyết các vấn đề khác nhau, ví dụ phát hiện đã rụng trứng hay xác định thời điểm rụng trứng. Trong đó, sử dụng biểu đồ kinh nguyệt, theo dõi nhiệt độ cơ thể, định lượng nồng độ progesterone huyết thanh để xác định đã rụng trứng (đã phóng noãn), còn đo kích thước nang trứng và nồng độ LH trong huyết thanh hay nước tiểu để xác định thời điểm rụng trứng.

Khi nào cần đánh giá: Dự đoán ngày rụng trứng được dùng khá phổ biến để xác định thời điểm vàng để thụ thai. Phụ nữ có chu kì kinh nguyệt không đều, kì kinh kéo dài và đau bụng kinh nên được đánh giá ngày rụng trứng.

Biểu đồ kinh nguyệt:  Là phương pháp đơn giản và rẻ nhất. Biểu đồ ghi lại ngày bắt đầu và kết thúc một chu kì kinh nguyệt trong vài tháng liên tục. Một chu kì kinh nguyệt thường kéo dài từ 25- 35 ngày. Chu kì ngắn có thể do giai đoạn nang noãn hoặc giai đoạn hoàng thể bị rút ngắn. Chu kì kinh dài hay ngắn còn phụ thuộc pha phóng noãn.

Bệnh nhân nên chú ý các triệu chứng bất thường, vì đó có thể là những biểu hiện lâm sàng do tác dụng của hormone sinh dục. Những triệu chứng này bao gồm niêm mạc tử cung mỏng, tăng tiết chất nhầy vào giữa chu kì kinh nguyệt. Các triệu chứng tiền kinh nguyệt điển hình như  chuột rút, cương tức vùng ngực, phù và tăng cân, thèm ăn hoặc tâm trạng thay đổi thất thường.

Theo dõi nhiệt độ cơ thể: Sau khi rụng trứng, hoàng thể tiết ra progesterone kích thích tuyến yên tăng nhiệt độ cơ thể. Do đó có thể theo dõi nhiệt độ hàng ngày để biết được sự thay đổi nồng độ progesterone và xác định thời gian rụng trứng.

Để theo dõi nhiệt độ cơ thể cần một nhiệt kế, với mức độ chia nhỏ từ 96 đến 100 độ F để dễ dàng phát hiện sự chênh lệch mỗi 1/10 độ. Và nên sử dụng nhiệt kế thủy ngân để cho kết quả chính xác hơn nhiệt kế điện tử.

Người phụ nữ sẽ đo nhiệt độ cơ thể vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy bằng nhiệt kế kẹp dưới lưỡi. Mặc dù kết quả đo hằng ngày có sai số, nhưng có thể thấy nhiệt độ ở giai đoạn hoàng thể tăng 0,5 độ F so giai đoạn nang noãn trong chu kì kinh nguyệt. Trong một chu kì bình thường, nhiệt độ bắt đầu tăng sau khi xuất hiện đỉnh LH từ 1- 2 ngày và kéo dài ít nhất 10 ngày. Do đó, theo dõi nhiệt độ có thể tính được thời điểm rụng trứng trước đó, tuy nhiên vì nhiệt độ tăng sau khi rụng trứng nên bỏ lỡ thời điểm dễ thụ thai. Nhiệt độ cơ thể giảm xuống sau giai đoạn hoàng thể báo hiệu bắt đầu một chu kì kinh nguyệt mới.

Nồng độ progesterone huyết thanh: Một xét nghiệm đơn giản khác là định lượng progesterone huyết thanh ở  giữa giai đoạn hoàng thể, vào khoảng 18-24 ngày từ ngày đầu tiên của chu kì kinh nguyệt trước đó hoặc khoảng 7 ngày trước khi tới chu kì kinh kế tiếp. Nồng độ progesterone ở giữa giai đoạn hoàng thể bình thường khoảng 6-25 ng/mL. Khi nồng độ progesterone thấp hơn (ví dụ 2ng/mL) nên kiểm tra tiếp sau 2 đến 3 ngày. Nếu progesterone vẫn không tăng cho thấy giai đoạn hoàng thể khiếm khuyết, nang trứng không vỡ. Những nang này vẫn được hoàng thể hóa một phần và tiết progesterone, tuy nhiên chúng không tiết đủ progesterone như giai đoạn hoàng thể bình thường.

Có sự thay đổi đáng kể nồng độ progesterone trong máu vì nồng độ progesterone có thể chỉ tăng đáp ứng với các lần phóng thích lượng lớn LH. Do đó giảm progesterone đơn lẻ không thể đánh giá chính xác bất thường về giai đoạn hoàng thể  vì có thể thời điểm xét nghiệm là ở giữa các lần phóng thích LH. Nồng độ progesteron trên 6 ng/mL thường cho thấy chức năng hoàng thể bình thường

THỜI ĐIỂM RỤNG TRỨNG

Với những cặp vợ chồng mong muốn có thai, thời điểm quan hệ dễ thụ thai nhất là 1 đến 2 ngày trước khi trứng rụng. Do đó, xác định được thời điểm rụng trứng và quan hệ trong khoảng thời gian này rất dễ thụ thai. Điều này dễ nhận thấy khi so sánh kết quả của các nghiên cứu: Nhóm đầu tiên gồm 100 cặp vợ chồng đã thụ thai mà không cần tính ngày rụng trứng, sau 3 tháng có 50% cặp đã thụ thai, sau 6 tháng có 70% và đạt 90% sau 12 tháng, trong khi nhóm 100 cặp vợ chồng khác quan hệ dựa trên ngày rụng trứng thì có tới 76% mang thai sau 1 tháng và đạt 100 % sau 7 tháng.

Xác định ngày có khả năng thụ thai: Phương pháp tính ngày quan hệ và nhiệt độ cơ thể thường không chính xác, bởi vì chu kì kinh nguyệt thường không đều và nhiệt độ cơ thể thì sau khi rụng trứng mới thay đổi. Phương pháp tốt nhất là kiểm tra âm đạo và phát hiện những thay đổi do nồng độ estrogen gây nên như tăng tiết chất nhầy, âm đạo ẩm ướt, mềm mại. Đo nồng độ LH và estrogen cho kết quả chính xác hơn nhưng tốn kém. Các phương pháp mới hơn bao gồm thay đổi về nước bọt, chất nhầy âm đạo hay nhiệt độ.

Các phương pháp thông thường

Nồng độ LH và estradiol tăng: Nồng độ LH (luteinizing hormone) tăng có thể phát hiện trong nước tiểu và huyết thanh. Que thử rụng trứng (thử LH nước tiểu) dễ sử dụng ở nhà và thuận tiện cho người phụ nữ . Nồng độ LH nước tiểu tăng trong khoảng 12 giờ sau khi LH được tiết vào máu, do đó xác định được thời điểm rụng trứng và thời điểm quan hệ tình dục tốt nhất. Nồng độ LH trog huyết thanh tăng cao trong 36 tiếng trước khi phóng noãn do đó người phụ nữ phải thử nước tiểu trước đó 1 đến 2 ngày để theo dõi sự thay đổi của LH chính xác nhất.

Monitor kĩ thuật số và điện tử được phát triển để theo dõi sự thay đổi của estradiol và LH trong nước tiểu nhằm xác định chính xác thời điểm rụng trứng. Nhờ vậy mà xác định khoảng thời gian vàng trứng rụng và thời điểm rụng trứng chính xác hơn bằng cách theo dõi nồng độ estrogen tăng lên trước khi tăng LH.

Que thử LH nước tiểu phải được sử dụng chính xác theo hướng dẫn vì que thử được sử dụng vào các thời điểm phù hợp trong ngày. Ngoài ra nên sử dụng que thử cho khoảng thời gian dự đoán dựa trên ngày rụng trứng của chu kì kinh trước. Với bất kì trường hợp tăng LH nào như hội chứng buồng trứng đa nang, suy buồng trứng tiên phát hay mãn kinh có thể cho kết quả dương tính giả. Kết hợp nồng độ estradiol tăng giúp giảm dương tính giả.  Bệnh nhân nên được hướng dẫn về cách sử dụng và giải thích về 7% các trường hợp dương tính giả.

Ngược lại, đo nồng độ LH huyết thanh không được sử dụng phổ biến, trừ các trường hợp phải thụ tinh trong ống nghiệm.   Đo LH huyết thanh đòi hỏi nhiều kiến thức về LH trong các xét nghiệm miễn dịch, và có sự thay đổi đáng kể trong kết quả xét nghiệm tùy thuộc vào kháng thể, tiêu chuẩn và kỹ thuật

Siêu âm vùng chậu: Siêu âm buồng trứng là một phương pháp quan trọng khác để đánh giá chu kỳ kinh nguyệt và rụng trứng, tuy nhiên không được dùng thường xuyên để tính khả năng thụ thai do tốn kém. Siêu âm có thể xác định một nang trội, một cấu trúc nang khi có đường kính từ 16 đến 30 mm sẽ bắt đầu vỡ và phóng noãn. Có 2 kĩ thuật siêu âm: Siêu âm qua thành bụng,  cần giữ bàng quang căng đầy nước tiểu để có thể quan sát được toàn bộ khung chậu và các cơ quan trong đó. Cách thứ 2 là siêu âm qua đường âm đạo, có thể quan sát rõ hơn do đầu dò đi qua đường âm đạo và có độ phân giải cao, và bệnh nhân không cần nhịn tiểu để giữ bàng quang đầy nước. Do đó siêu âm qua đường âm đạo thường dùng cho phụ nữ đã quan hệ tình dục ; còn siêu âm qua thành bụng dùng cho phụ nữ chưa có gia đình, chưa quan hệ tình dục, hay trong những trường hợp cần đánh giá tổng quát các cơ quan vùng chậu.

Nang trứng tiền phóng noãn có đường kính trung bình khoảng 20-25 mm và còn tùy thuộc vào người quan sát. Siêu âm chính xác hơn khi làm nhiều lần, nếu phát hiện một nang lớn vào thời điểm bất kì chưa đủ để kết luận nang lớn sắp phóng noãn. Trừ khi trong 1 tuần trước đó siêu âm cho thấy nang bình thường, và nồng độ estradiol tăng phù hợp; hoặc siêu âm 1 tuần sau đó cho thấy nang đã phóng noãn ở cùng vị trí, với echo của hoàng thể.

Sự dày lên của nội mạc tử cung giúp theo dõi nang noãn. Nội mạc tử cung dày lên do hoạt động của estradiol và vùng echo hồi âm kém ở nội mạc tử cung do progesterone tiết ra trong giai đoạn hoàng thể.

Các cách tiếp cận bổ sung

Lên men nước bọt: Nước bọt sau khi khô có hình cây xương xỉ trong thời kì rụng trứng. Có thể quan sát nước bọt lên men bằng kính hiển vi. Độ chính xác của lên men nước bọt thấp hơn các phươn gphaps khác.

Cảm biến nhiệt độ: Cảm biến nhiệt độ đo ở âm đạo và nách hơn hàng ngàn lần trong cả ngày và đêm, và báo lại với máy chủ. Dữ liệu về nhiệt độ được dùng để dự đoán ngày rụng trứng.

Dùng smartphone: Các ứng dụng trên điện thoại có thể tăng khả năng dự đoán rụng trứng bằng cách kết hợp dữ liệu về nhiệt độ, nước tiểu, nước bọt. Các phát triển về công nghệ có thể kết hợp dữ liệu về siêu âm để xác định ngày rụng trứng.

DỰ TRỮ BUỒNG TRỨNG

Một kiểm tra cuối cùng được sử dụng trong đánh giá chu kì kinh nguyệt, đặc biệt với phụ nữ lớn tuổi hoặc vô sinh là đánh giá dự trữ buồng trứng . Bao gồm đo nồng độ FSH (hormone kích thích buồng trứng) huyết thanh trong giai đoạn noãn nang sớm và nồng độ estradiol. Phương pháp này dựa trên sự thay đổi nồng độ gonadotropin trong chu kì kinh nguyệt theo độ tuổi. Và đặc biệt tuổi càng lớn thì giai đoạn nang noãn càng rút ngắn, do nồng độ FSH trong nửa đầu giai đoạn nang noãn tăng trước khi giảm nồng độ estradiol hoặc progesterone , còn giai đoạn hoàng thể bị kéo dài ra.

TỔNG KẾT

  • Ở một phụ nữ có chu kì kinh nguyệt bất thường, ra máu nhiều hay ít, cần xác định thời điểm rụng trứng.
  • Chu kì kinh nguyệt thường kéo dài 25 đến 35 ngày
  • Sau khi rụng trứng và tăng progesterone, có thể tăng thân nhiệt cơ bản thêm 0,5 độ F
  • Nồng độ progesterone huyết thanh khoảng 6 đến 25 ng/mL trong 7 ngày trước hành kinh là chỉ số khá chắc chắn để xác định rụng trứng.
  • Ngày rụng trứng có thể được xác định cách ngày dự kiến ​​hành kinh khoảng 14 ngày, bằng cách sử dụng que thử rụng trứng hoặc siêu âm đo của kích thước nang trứng.
  • Đo nồng độ hormone FSH trong giai đoạn noãn nang sớm kết hợp với nồng độ estradiol có thể gợi ý giảm dự trữ buồng trứng.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Filicori M, Butler JP, Crowley WF Jr. Neuroendocrine regulation of the corpus luteum in the human. Evidence for pulsatile progesterone secretion. J Clin Invest 1984; 73:1638.
  2. Stanford JB, White GL, Hatasaka H. Timing intercourse to achieve pregnancy: current evidence. Obstet Gynecol 2002; 100:1333.
  3. McGovern PG, Myers ER, Silva S, et al. Absence of secretory endometrium after false-positive home urine luteinizing hormone testing. Fertil Steril 2004; 82:1273.
  4. Taylor AE, Khoury RH, Crowley WF Jr. A comparison of 13 different immunometric assay kits for gonadotropins: implications for clinical investigation. J Clin Endocrinol Metab 1994; 79:240.
  5. Sherman BM, West JH, Korenman SG. The menopausal transition: analysis of LH, FSH, estradiol, and progesterone concentrations during menstrual cycles of older women. J Clin Endocrinol Metab 1976; 42:629

Nguồn: https://www.uptodate.com/contents/evaluation-of-the-menstrual-cycle-and-timing-of-ovulation

Bài viết được dịch thuật và biên tập bởi CLB Nội tiết trẻ trên DEMACVN.COM – Vui lòng không reup khi chưa được cho phép!

Người dịch: Phương Thảo

Print Friendly, PDF & Email

About ngannguyen

Check Also

Vận động đều đặn, ngăn chặn ung thư !

Chia sẻ bài viết             VẬN ĐỘNG ĐỀU ĐẶN, NGĂN CHẶN UNG THƯ !        …