Liên quan giữa chỉ số, hình thái huyết áp 24 giờ với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường typ 2

Chia sẻ bài viết

LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ, HÌNH THÁI HUYẾT ÁP 24 GIỜ

VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN

TĂNG HUYẾT ÁP KÈM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2

PGS.TS. Lê Đình Thanh1, PGS. TS. Hoàng Trung Vinh2

1. Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh

2. Học viện Quân y

 SUMMARY

The relation between indexes, profiles of twenty four hour ambulatory blood pressure and some parameters in hypertensive patients with type 2 dialetes mellitus.

The aim of this study is evaluate relation between indexes, profiles of twenty four hour ambulatory blood pressure and body mass index (BMI), dyslipidemia, left ventricular mass index (LVMI) in 61 hypertensive patients with type 2 diabetes mellitus. Results showed that: The mean of hypertensive indexes 24 hour, day-time, night-time have no significant relation with BMI, dyslipidemia, LVMI. Patients with overweight, obese, dyslipidemia, increased LVMI have higher proportion of nondipper. Systolic and diastolic blood pressure load in patients with dyslipidemia, increased LYMI higher than the in patients with similar indexes in normal level however no significant with BMI.

Key words: hypertesion, type 2 diabetes mellitus, twenty four hour ambulatory blood pressure monitoring.

Chịu trách nhiệm chính:

Ngày nhận bài:

Ngày phản biện khoa học:

Ngày duyệt bài:

 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp và đái tháo đường typ 2 là bệnh mạn tính, đều gây ra biến chúng cơ quan đích trong đó có nhiều biến chứng tương tự như mắt, thận, tim mạch, não. Khi kết hợp hai bệnh trên cùng một đối tượng thì nguy cơ gây biến chứng tăng gấp nhiều lần, mức độ các biến chứng và tiến triến chung của bệnh nhân sẽ nặng hơn.

Nguy cơ gây biến chứng cơ quan đích phụ thuộc vào và bị ảnh hưởng bởi mức độ kiểm soát các chỉ số và mức độ biến thiên huyết áp trong ngày. Sự kết hợp THA và ĐTĐ typ 2 sẽ gây biến thiên HA phức tạp và mức độ nặng hơn, liên quan với một số yếu tố ảnh hưởng.

Đo HA liên tục 24 giờ mang theo người sẽ phát hiện được đặc điểm biến thiên HA. Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu mối liên quan giữa chỉ số, hình thái HA 24 giờ với chỉ số khối cơ thể, rối loạn lipid máu và chỉ số khối lượng cơ thất trái ở BN THA kèm ĐTĐ typ 2.

2. ĐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng

+ 61 BN THA kèm ĐTĐ typ 2 thuộc đối tượng nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng.

– Bệnh nhân THA tiên phát kèm ĐTĐ typ 2.

– Chẩn đoán lần đầu hoặc đang điều trị

– Tăng huyết áp có thể phát hiện trước, đồng thời, hoặc sau bệnh ĐTĐ.

– Tăng huyết áp có độ, giai đoạn khác nhau.

– Bệnh nhân có hay không có biến chứng, bệnh kèm theo.

2.2. Phương pháp

+ Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả, cắt ngang.

+ Nội dung nghiên cứu:

– Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, đo chiều cao, cân nặng để xác định BMI.

– Xét nghiệm công thức và hóa sinh máu

– Siêu âm tim xác định chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI)

– Ghi huyết áp 24 giờ bằngmáy hiệu OSCAR 2 của hãng  SunTech Medical, Hoa Kỳ. Kết quả được phân tích bằng chương trình Accu Win Pro V3 chuyên dụng, được cài đặt sẵn.Ban ngày: 6-22h: đo 30 phút/lần.

Ban đêm: 22-6h ngày hôm sau, đo 60 phút/lần.

Các chỉ số xác định dựa vào HA 24 giờ gồm: HA tâm thu, tâm trương, trung bình 24 giờ, ngày, đêm, quá tải áp lực tâm thu, tâm trương, dipper, nondipper, huyết áp đảo ngược.

+ Các tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại sử dụng trong nghiên cứu.

– Phân loại BMI theo Hiệp hội ĐTĐ Châu Á – Thái Bình Dương.

– Chẩn đoán rối loạn lippid máu theo Hội Tim mạch Việt Nam.

– Tăng LVMI ở nam > 131g/m2, nữ > 100g/m2.

+ Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.

3. KẾT QUẢ

 Bảng 3.1. Đặc điểm chung đổi tượng nghiên cứu (n = 61).

Bệnh nhân có dư cân, béo, rối loạn lipid máu, tăng LVMI đều chiếm tỉ lệ cao.

 Bảng 3.2. So sánh GTTB chỉ sổ HA 24h với BMI (n=61)

GTTB các chỉ số HA, quá tải áp lực tâm thu, tâm trương 24h, ngày, đêm ở BN có BMI bình thường hoặc tăng khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Tỷ lệ (%)

Biếu đồ 3.1. Mối liên quan giữa BMI với tỷ lệ BN dựa theo hình thái huyết áp.

Tỷ lệ nondipper ở bệnh nhân béo cao hơn có ý nghĩa.

Bảng 3.3. So sánh GTTB chỉ sổ HA 24h với RLLP (n=61)

– GTTB các chỉ số HA, ngày, đêm ở BN có RLLP máu khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với BN không có RLLP máu.

– GTTB quá tải áp lực tâm thu, tâm trương ở BN có RLLP máu cao hơn so với BN không có RLLP máu.

Tỷ lệ (%)

Biểu đồ 2.2. Mối liên quan giữa RLLP với tỷ lệ BN dựa theo hình thái huyết áp.

Tỷ lệ nondipper ở bệnh nhân có rối loạn lipid máu cao hơn có ý nghĩa.

Bảng 3.4. So sánh GTTB chỉ sổ huyết áp 24 giờ ở BN có hay không có tăng LVMI

+ GTTB các chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, trung bình 24 giờ, ngày, đêm không khác biệt có ý nghĩa ở bệnh nhân có hay không có tăng chỉ số khối lượng cơ thất trái.

+ GTTB quá tải áp lực tâm thu, tâm trương ở bệnh nhân có tăng chỉ số khối lượng cơ thất trái cao hơn có ý nghĩa so với bệnh nhân có chỉ số khối lượng cơ thất trái bình thường.

Biểu đồ 3.3. Mối liên quan giữa LVMIvới tỷ lệ BN dựa theo hình thái huyết áp.

Tỷ lệ nondipper ở bệnh nhân có tăng LVMI cao hơn có ý nghĩa.

4. BÀN LUẬN

Tình trạng dư cân, béo gây ảnh hưởng đối với sự xuất hiện, tiến triển, hiệu quả kiểm soát các chỉ số của cả 2 bệnh THA và ĐTĐ typ 2. Dư cân, béo sẽ gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh tự động của cơ thể nói chung và của hệ tim mạch nói riêng và điển hình nhất là biến thiên nhịp tim, huyết áp ngày – đêm, hiện tượng ngưng thở khi ngủ. Tuy có sự khác nhau về kết quả quan sát song đa số tác giả nhận thấy mối liên quan giữa dư cân, béo với chỉ số, hình thái, huyết áp 24 giờ ở BN THA, ĐTĐ typ 2. Mối liên quan đó chủ yếu với quá tải áp lực và hiện tượng mất hõm huyết áp về đêm [7] [8]. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị trung bình các chỉ số huyết áp 24 giờ, tỉ lệ quá tải áp lực liên quan chưa có ý nghĩa với dư cân, béo song tỉ lệ nondipper ở BN dư cân, béo tăng có ý nghĩa so với khi có BMI ở mức bình thường. Tỉ lệ nondipper càng cao thì biến chứng cơ quan đích càng tăng. Do đó việc điều chỉnh, kiểm soát BMI ở BN THA có ĐTĐ typ 2 cũng cần thiết ảnh hưởng có lợi cho tiến triển và nguy cơ gây biến chứng trong đó có biến thiên huyết áp [1][3].

Rối loạn lipid máu là biểu hiện rất thường gặp ở cả BN THA và ĐTĐ typ 2, là yếu tố nguy cơ chủ yếu gây vữa xơ động mạch và biến chứng cơ quan đích. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả đã nhận thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa RLLP với biến thiên HA ở BN THA, ĐTĐ typ 2 [4] [6].

Kết quả nghiên cứu cho thấy: tuy giá trị trung bình HATT, HAT’Tr, HATB 24 giờ, ngày, đêm liên quan chưa có ý nghĩa với RLLP song ở BN có RLLP thì giá trị trung bình QTALTT, QTALTTr 24 giờ, ngày, đêm đều cao hơn có ý nghĩa so với ở BN không có RLLP. Như vậy là RLLP đã gián tiếp ảnh hưởng đến biến thiên huyết áp thể hiện qua tỷ lệ quá tải áp lực. Rối loạn lipid máu góp phần gây biến đổi chức năng nội mạc mạch máu gia tăng sức cản động mạch [2] [3].

Phì đại thất trái là biến chứng đặc trưng thường gặp ở BN THA song khi có phì đại thất trái lại tác động ngược lại đối với chỉ số HA, gây biến thiên huyết áp nhiều hơn và biến chứng cơ quan đích nặng hơn. Mối liên quan giữa LVMI với HA thể hiện trên khía cạnh quá tải áp lực, theo đó giá trị trung bình quá tải áp lực tâm thu, tâm trương 24 giờ, ngày, đêm ở BN có tăng LVMI đều cao hơn so với ở đối tượng có LVMI ở mức bình thường, còn giá trị chỉ số huyết áp liên quan chưa có ý nghĩa. Tăng khối lượng cơ thất trái sẽ làm cho tim tăng co bóp, gây quá tải áp lực. Mức độ quá tải áp lực tâm thu, tâm trương được bù trừ trong khoảng thời gian dài, tồn tại cho đến khi chức năng tim bị suy giảm [5]. Mối liên quan giữa LVMI với hình thái HA còn thể hiện: Khi tăng LVMI sẽ làm xuất hiện nhiều hơn tỷ lệ mất hõm huyết áp về đêm, cao hơn so với bệnh nhân có LVMI ở mức bình thường (70,2% so với 21,4%).

Như vậy mối liên quan có ý nghĩa giữa các chỉ số huyết áp 24 giờ ở BN THA kèm ĐTĐ typ 2 với một số yếu tố nguy cơ như: dư cân, béo, RLLP, tăng LVMI chủ yếu thể hiện bởi sự biến đổi quá tải áp lực và mất hõm huyết áp. Đây là những biếu hiện có thế làm gia tăng các biến chứng cấp hoặc mạn tính ở đối tượng BN trên.

 5. KẾT LUẬN

Qua tìm hiểu mối liên quan giữa chỉ số HA 24 giờ với chỉ số khối cơ thể, rối loạn lipid máu và chỉ số khối lượng cơ thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường typ 2 có kết luận sau:

+ Giá trị trung bình chỉ số huyết áp 24 giờ giữa ngày và đêm khác biệt không có ý nghĩa chứng tỏ bệnh nhân không còn duy trì được sự biến thiên huyết áp theo nhịp sinh lý bình thường.

+ Bệnh nhân dư cân, béo, rối loạn lipid máu, tăng chỉ số khối lượng cơ thất trái có tỷ lệ nondipper cao hơn.

+ Tỷ lệ quá tải áp lực tâm thu, tâm trương ở bệnh nhân rối loạn lipid máu, tăng chỉ số khối lượng cơ thất trái cao hơn so với bệnh nhân có các chỉ số tương ứng ở mức bình thường song liên quan chưa có ý nghĩa với chỉ số khối cơ thể.

TÓM TẮT

Khảo sát mối liên quan giữa một số chỉ số, hình thái huyết áp (HA) 24 giờ với chỉ số khói cơ thể (BMI), rối loạn lipid máu (RLLP), chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) ở 61 bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) kèm đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ typ 2). Kết quả nhận thấy: Giá trị trung bình chỉ số HA 24 giờ, ngày, đêm liên quan chưa có ý nghĩa với BMI, RLLP, LVMI. Bệnh nhân dư cân, béo, RLLP, tăng LVMI có tỷ lệ nondipper cao hơn. Tỉ lệ quá tải áp lực tâm thu (QTALTT), quá tải áp lực tâm trương (QTALTTr) ở BN có RLLP, tăng LVMI cao hơn so với BN có các chỉ số tương ứng ở mức bình thường. Tỷ lệ QTALTT, QTALTTr liên quan chưa có ý nghĩa với BMI.

Từ khóa: Tăng huyết áp, đái tháo đường typ 2, huyết áp 24 giờ, yếu tố nguy cơ tim mạch.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Angeli , Verdecchia P., (2005), “How Call We Use the Results of Ambulatory Blood Pressure Monitoring in Clinical Practice?” Hypertension, 46 (25), pp. 987-990.
  2. Anderson EA, Hoffman RP, Balon TW et al (1999). Hyperinsulinemia produces both sympathetic neural activation and vasodilation in normal humans.
  3. Albarran OG, Garcia RR (2001), Correlation between insulin suppression test and quantitative insulin sensitivity check index in hypertensive and normotensive obese patients.Diabetes care; 24(11): 1998-99.
  4. Bellomo , Narducci p., Rondoni F., et al. (1999) “Prognostic value of 24-hour blood pressure in pregnancy”. JAMA, 282, pp.1447-52.
  5. D.S.H (1989). Hypertension in the person with diabetes Amer.J med. Sci, vol 297 N 4/228 – 332.
  6. Colin J., Giuseppe M., Gianfranco p., (2000), “Ambulatory bood pressure monitoring and organ damage”, AHA, hypertension, 36, pp. 894-898.
  7. Colwell JA (2000). Multifactorial aspects of the treatment of the type 2 diabetic patients.Metabolism; 12 (suppl 1): 1- 4.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Quản lý đái tháo đường trong đại dịch COVID-19 – GS.TS Nguyễn Hải Thủy

Chia sẻ bài viết