Mật độ xương ở bệnh nhân basedow mới phát hiện tại bệnh viện Bạch Mai

Chia sẻ bài viết

MẬT ĐỘ XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN BASEDOW

MỚI PHÁT HIỆN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Silathod Bout, Đỗ Trung Quân

Đại học Y Hà Nội

ABSTRACT

Bone mineral density in the newly diagnosed Graves’ disease patients at Bach Mai Hospital

Objective: To evaluate bone mineral density in newly diagnosed Graves’ disease patients by DEXA and to identify factors related to osteoporosis in these subjects. Subjects and Method: A cross-sectional descriptive study on 110 patients, divided into two groups: experimental group (60 patients) and control group (50 patients). Result: In the Graves diseaseBasedow group, 33.34% of patients had decreased bone density, 6.66% of patients with osteoporosis (at femoral neck), and 25.0% of patients had decreased bone density; 3.33% of patients with osteoporosis (at lumbar vertebrae). The average density of femoral neck in the Basedow group is -0,89 ± 1,07 (T-score), and the averagedensity oflumbar vertebrae is -0,35 ± 1,22 (T-score). Conclusion: The average bone density of the Basedow group was lower than the control group, and there is a difference between the average bone density of the lumbar vertebraebetween the experimental group and the control group with p< 0.005. TSH levels have an effect on the average density of the femoral neck with p < 0.005.

Keywords: Bone mineral density, osteoporosis,    Dual-energy    X-ray absorptiometry (DEXA)

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá mật độ xương ở các bệnh nhân Basedow mới phát hiện bằng phương pháp DEXA và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở các đối tượng trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 bệnh nhân được chia làm hai nhóm:  nhóm bệnh (60 bệnh nhân) và nhóm chứng (50 bệnh nhân). Kết quả:Ở nhóm bệnh nhân Basedow có 33,34% bệnh nhân bị giảm mật độ xương; 6,66% bệnh nhân bị loãng xương (tại vị trí cổ xương đùi) và 25,0% bệnh nhân bị giảm mật độ xương; 3,33% bệnh nhân bị loãng xương (tại vị trí cột sống thắt lưng). Mật độ cổ xương đùi trung bình ở nhóm Basedow là -0,89 ± 1,07 (T-score) và mật độ xương trung bình ở vị trí cột sống thắt lưng là -0,35 ± 1,22 (T-score). Kết luận:Mật độ xương trung bình của nhóm mắc Basedow thấp hơn so với nhóm chứng và có sự khác biệt giữa mật độ xương trung bình ở vị trí cột sống thắt lưng giữa nhóm bệnh và nhóm chứng với p < 0,05. Nồng độ TSHcó ảnh hưởng tới giá trị trung bình mật độ cổ xương đùi với p < 0,05.

Từ khóa: Mật độ xương, loãng xương, phương pháp hấp thụ tia X kép (DEXA)

Chịu trách nhiệm chính: Silathod Bout Ngày nhận bài: 01/8/2018

Ngày phản biện khoa học: 18/8/2018

Ngày duyệt bài: 31/8/2018

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Basedow (hay còn gọi là bệnh Graves) là một trong những bệnh lý cường chức năng tuyến giáp hay gặp nhất, bệnh được đặc trưng với tuyến giáp to lan tỏa, nhiễm độc hormon giáp, bệnh mắt và thâm nhiễm hốc mắt, đôi khi có thâm nhiễm da [1], [2]. Ở nước Việt Nam bệnh Basedow chiếm 45,8% trong các bệnh nội tiết[1], trong đó 80- 90% gặp ở nữ [2]. Ở Nhật Bản năm 2002 ước tính có khoảng 130.000 bệnh nhânnhiễm độc tuyến giáp,trong đó 32.000 nam và 98.000 nữ[3].

Cường  giáp  nếu  không  được  điều  trị sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm một  trong các biến chứng đó là loãng xương làm cho xương dễ gẫy, các biểu hiện của bệnh loãng xương thường kín đáo,khi trọng lượng xương mất khoảng 30-40% mới có dấu hiệu lâm  sàng như: đau cột sống,vẹo cột sống hay gẫy xương…, gây giảm chất lượng cuộc sống, giảm sự vận động,tốn kém trong điều trị. Với sự tiến bộ của nền y học có nhiều phương pháp được áp dụng để đánh giá mật độ xương,trong đó phương pháp hấp thụ năng lượng kép dùng tia X (DEXA), tại vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương[4], [5]. Cho tới nay đã có một số nghiên cứu về đánh giá mật độ xương ở bệnh nhân nữ mắc bệnh Basedow ở Việt Nam, song chưa có nghiên cứu nào đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA ở bệnh nhân Basedow mới phát hiện, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mật độ xương ở các bệnh nhân Basedow mới phát hiện bằng phương pháp DEXA và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở các đối tượng trên.

II.   ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • Thời gian, địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 10/2017 đến tháng 7/2018 tại Bệnh viện Bạch
  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 110 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm:
  • Nhóm bị Basedow (nhóm bệnh):

+ Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Bạch Mai thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 7/2018, đáp ứng theo tiêu chuẩn: bệnh nhân được chẩn đoán xác định Basedow theo Bộ trưởng Bộ Y tế năm 2015(Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết – chuyển hóa).

+ Các bệnh nhân này được chẩn đoán Basedow mới phát hiện chưa được dùng thuốc bình giáp bao giờ.

+ Đang ở trong giai đoạn nhiễm độc giáp.

  • Nhóm không bị Basedow (nhóm chứng).

+ Bệnh nhân khỏe mạnh đến khám sức khỏe định kỳ tại khoa khám bệnh theo  yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 7/2018.

+ Khám lâm sàng không có triệu chứng bệnh lý Basedow và các bệnh lý khác.

+ Cận lâm sàng: sinh hóa máu, công thức máu, hormone tuyến giáp bình thường.

  • Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
  • Loại trừ

+ Các bệnh nhân bị Basedow đã được điều trị thuốc kháng giáp trạng.

+ Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến loãng xương: sử dụng các thuốc glucocorticoid kéo dài với liều cao, Heparin, phenobacbital; bất động lâu, mãn kinh rất sớm trước 40 tuổi,cắt buồng trứng, cắt dạ dày; mắc các bệnh nội khoa khác kèm theo (suy thận mạn tính, suy gan mạn tính, đa u tủy xương, cường cận giáp…)

+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

2.4. Xử lý và phân tích số liệu:

Các số liệu thu thập được xử lý trên máy  vi tính bằng phần mềm SPSS 16.0 với các thuật toán thống kê y học.

III.  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

`3.1 Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét:Độ tuổi trung bình của nhóm chứng cao hơn so với nhóm bệnh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Chiều cao trung bình của nhóm chứng thấp hơn so với  nhóm bệnh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Cân nặng trung bình của nhóm chứng cao hơn so với nhóm bệnh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Sự phân bố BMI ở BN bị béo phì thuộc nhóm chứng chiếm 10% cao hơn nhóm bệnh 1,67%; trong khi đó tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm Basedow là 30% cao hơn nhóm chứng là 14%; sự khác biệt về BMI của 2 nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

3.2. Đặc điểm mật độ xương của các bệnh nhân Basedow và một số yếu tố liên quan

Bảng 2.Giá trị trung bình mật độ xương

Nhận xét:Mật độ xương trung bình của nhóm mắc Basedow thấp hơn so với nhóm chứng. Có sự khác biệt giữa mật độ xương cột sống thắt lưng trung bình ở nhóm bệnh và nhóm chứng, sự khác biệt của hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.Phân loại mật độ xương theo T-score

Nhận xét:Tỷ lệ bệnh nhân có loãng xương ở vị trí cổ xương đùi chiếm 6,66%; và ở vị trí cột sống thắt lưng chiếm 3,33%; tỷ lệ không loãng xương ở cả 2 vị trí cổ xương đùi và cột sống thắt lưng đều>60%.

Bảng 4.Độ to của bướu giáp với MĐX được đo ở vị trí cổ xương đùi

*test χ2 sự dụng kiểm định tỷ lệ

Nhận xét:So sánh tìm mối tương quan giữa độ bướu và phân loại mật độ xương; nhận thấy sự

khác biệt giữa các tỷ lệ này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 5.Liên quan giá trị trung bình của nồng độ FT4 với MĐX

* Ttest: kiểm định sự khác biệt của 2 nhóm giá trị trung bình

Nhận xét:Chưa tìm thấy sự khác biệt giữa mật độ xương trung bình và nồng độ FT4 của bệnh

nhân (p > 0,05).

Bảng 6.Liên quan giá trị trung bình của MĐX và nồng độ TSH

* Ttest: kiểm định cho 2 giá trị trung bình

Nhận xét:Có sự khác biệt giữa mật độ cổ xương đùi trung bình theo thang đo T-score với nồng độ TSH của bệnh nhân với mức ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

IV. BÀN LUẬN

4.1 Tình trạng giảm mật độ xương và loãng xương ở bệnh nhân Basedow mới phát hiện

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân có loãng xương đo ở vị trí cổ xương đùi là 4 BN chiếm 6,66%; trong khi đó đo mật độ xương theo T-score ở vị trí cột sống thắt lưng là 2 BN chiếm 3,33%; tỷ lệ không loãng xương đo ở cả 2 vị trí cổ xương đùi và cột sống thắt lưng đề trên 60%. So sánh với kết quả nghiên cứu của Cấn Xuân Quý và cộng sự (2011): tại vị trí cột sống thắt lưng có 37,04% bệnh nhân bị loãng xương; 32,1% bệnh nhân không bị loãng xương và tại vị trí cổ xương đùi có 22,22% bệnh nhân bị loãng xương và  32,1% bệnh nhân không bị loãng xương [6]. Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân bị loãng xương tại hai vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi thấp hơn so với của tác giả, lý giải điều này có thể là do sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu: tác giả lựa chọn đối tượng là những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và trong nghiên cứu của chúng tôi là bệnh nhân basedow. Trong nghiên cứu này tác giả cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp như: ảnh hưởng của các yếu tố viêm, sự giảm hoạt động do tình trạng bệnh, thay đổi nội tiết liên quan đến tình trạng mãn kinh, tình trạng dinh dưỡng, sự giảm trọng lượng do  bệnh và sử dụng thuốc nhất là GC [6]. Trong nghiên cứu của Ngô Thị Mai Xuân và cộng sự (2007) thì tỷ lệ loãng xương đùi của chúng tôi có tương đồng nhưng tỷ lệ loãng xương cột sống thắt lưng thì thấp hơn [7]. Điều này có thể lý giải là do đối tượng nghiên cứu của tác giả khác so với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi. Cũng trong nghiên cứu của chúng tôi có  thể thấy tỷ lệ loãng xương ở cổ xương đùi là lớn hơn so với cột sống thắt lưng.

Mật độ xương trung bình của nhóm mắc Basedow thấp hơn so với nhóm chứng; cụ thể khi đo ở vị trí cổ xương đùi; mật độ xương ở nhóm Basedow là -0,89 ± 1,07 (T-score)  còn ở nhóm chứng là – 0,58 ± 1,06 (T-score) sự khác biệt của hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Khi đo mật độ xương ở vị trí cột sống thắt lưng; mật độ xương ở nhóm Basedow là -0,35 ± 1,22 (T-score)  còn ở nhóm chứng là 0,068 ± 1,06 (T-score) sự khác biệt của hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Trong nghiên cứu của Ngô Thị Mai Xuân và cộng sự (2007) tác giả cũng chỉ ra rằng mật độ xương trung bình cột sống thắt lưng, xương đùi của nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống kê  với p < 0,01 [7]. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy rằng so với nhóm chứng thì tỷ lệ bệnh nhân loãng xương ở nhóm bệnh lớn hơn do vậy khi đo mật độ xương trung bình thì ở những bệnh nhân thuộc nhóm bệnh sẽ có giá trị trung bình thấp hơn so với nhóm chứng do họ bị loãng xương và giảm mật độ xương.

Kết quả độ to của bướu giáp với mật độ xương được đo ở vị trí cổ xương đùi cho thấy ở những bệnh nhân giảm mật độ xương, độ bướu độ I là cao nhất chiếm 55%, độ II chiếm 35% và thấp nhất là độ III chiếm 10% trong khi đó ở những bệnh nhân loãng xương có tỷ lệ độ bướu độ I và độ II ngang bằng nhau là 50% và không có bệnh nhân nào loãng xương có độ bướu giáp độ III. So sánh tìm mối tương quan giữa độ bướu và phân loại mật độ xương; nhận thấy sự khác biệt giữa các tỷ lệ này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Trong nghiên cứu của Trịnh Xuân Tráng và cộng sự (2014) tác giả cũng phát hiện có 45,8% bệnh nhân loãng xương có bướu giáp to độ II song không có mối liên quan giữa độ to của bướu giáp với tình trạng mật độ xương ở bệnh nhân mắc Basedow [8].

4.2 Một số yếu tố liên quan đến mật độ xương ở bệnh nhân Basedow mới phát hiện Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra những bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao ≥50 pmol/l có mật độ cổ xương đùi và xương cột sống thắt lưng thấp hơn so với những bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao <50 pmol/l. Tuy nhiên sự khác biệt này là không nhiều và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Bên cạnh đó khi phân loại loãng xương theo T-score, ở những bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao ≥50 pmol/l khi đo ở xương đùi có tỷ lệ loãng xương cao hơn so với bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao <50 pmol/l và ở những bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao ≥50 pmol/l khi đo ở xương cột sống thắt lưng có tỷ lệ giảm mật độ xương cao hơn so với bệnh nhân Basedow có FT4 huyết thanh cao <50 pmol/l nhưng sự khác biệt này là không lớn và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Trong nghiên cứu của Trịnh Xuân Tráng và cộng sự (2014) tác giả cũng chỉ ra có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ FT4 huyết thanh và mật độ xương của bệnh nhân Basedow với mức ý nghĩa thống kê p < 0,001 [8]. Nghiên cứu của Mai Thị Minh Tâm và cộng sự (2002) cũng chỉ ra có sự khác biệt giữa giữa nồng độ FT4 huyết thanh và mật độ xương gót của bệnh nhân Basedow với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 nhưng không có sự khác biệt giữa nồng độ FT4 huyết thanh với mật độ xương tay [9]. Tuy vậy nhiều tác giả cũng cho rằng cường giáp kéo dài ảnh hưởng đến mật độ xương: Fraser và cộng sự [10] thấy cường giáp kéo dài dẫn đến mất xương. Floder và cộng sự cũng cho thấy cường giáp kéo dài có thể phát triển thành loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh [11]. Vestergaard cho rằng nồng độ hormon giáp tăng cao và kéo  dài có ảnh hưởng mật độ xương [12], tuy nhiên các mốc thời gian các tác giả đưa ra còn khác nhau: Meunier cho rằng ảnh hưởng đến xương ở bệnh nhân nhiễm độc giáp thường sau 1 năm mắc bệnh [13]. Meema và cộng sự cho rằng cường giáp ảnh hưởng lên xương trên hình ảnh X-quang sau 5 năm mắc bệnh [14]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi do tiến hành trên đối tượng là bệnh nhân Basedow mới phát hiện, thời gian khá ngắn nên có thể chưa phát hiện được sự liên quan giữa các yếu tố hormon và bệnh. Lopez JM (1991) nghiên cứu trên 10 bệnh nhân Basedow sau mãn kinh đo mật độ xương theo phương pháp hấp thụ photon kép cũng cho thấy không giảm khối lượng xương trong giai đoạn mắc bệnh 6 tháng [15].

Nghiên cứu mối liên quan giữa TSH với sự phân bố mật độ xương theo T-score: không có sự khác biệt về phân loại mật độ xương được đo ở cổ xường đùi: bình thường, giảm mật độ xương và loãng xương so với nồng độ TSH ở những BN có nồng độ TSH < 0,05 μIU/ml và TSH ≥ 0,05 μIU/ml với p > 0,05 vàkhông có sự khác biệt về phân loại mật độ xương được đo ở cột sống thắt lưng: bình thường, giảm mật độ xương và loãng xương so với nồng độ TSH ở những BN có nồng độ TSH < 0,05 μIU/ml và TSH ≥ 0,05 μIU/ml với p > 0,05. Tuy nhiên tỷ lệ giảm mật độ xương và loãng xương ở nhóm bệnh nhân có TSH < 0,05 μIU/ml cao hơn so với nhóm bệnh nhân có TSH ≥ 0,05 μIU/ml. Trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Xuân Tráng và cộng sự (2014) tác giả cũng chỉ ra tỷ lệ giảm mật độ xương ở nhóm bệnh nhân có TSH < 0,05 μIU/ml cao hơn so với nhóm BN có TSH ≥ 0,05 μIU/ml [8]. Điều này đã củng cố thêm nhận định: tình trạng dư thừa hormon tuyến giáp nặng và kéo dài sẽ làm quá trình chuyển hóa xương bị kích thích, làm gia tăng sự luân chuyển của xương, vì vậy cơ thể cần có một lượng các chất cần thiết cho sự tạo xương nhiều hơn, dẫn tới sự mất xương một cách đều đặn [8].

KẾT LUẬN

  • Ở nhóm bệnh nhân Basedow có 33,34% bệnh nhân bị giảm mật độ xương; 6,66% bệnh nhân bị loãng xương (tại vị trí cổ xương đùi) và 25,0% bệnh nhân bị giảm mật độ xương; 3,33% bệnh nhân bị loãng xương (tại vị trí cột sống thắt lưng).
  • Mật độ xương trung bình của nhóm mắc Basedow thấp hơn so với nhóm chứng và có sự khác biệt giữa mật độ xương trung bình ở vị trí cột sống thắt lưng giữa nhóm bệnh và nhóm chứng với p < 0,05.
  • Nồng độ TSH thấp <0,05(μIU/ml) có ảnh hưởng tới giá trị trung bình mật độ cổ xương đùi với p < 0,05. Các yếu tố khác: nồng độ FT4, tuổi, giới, BMI, độ to của bướu giáp chưa phát hiện được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Trung Quân và Nguyễn Thị Hà (2000).Một số nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của Basedow.Tạp chí Y học,số 11, 96-98.
  2. Trần Đức Thọ (1983). Bệnh Basedow Bài giảng bệnh học nội khoa. Tạp chí Y học Tổng hội Y học Việt Nam, số 3, 146 -171.
  3. Ashizawa, K (2006).Epidemiology of Basedow disease and other thyroid diseases. Nihon rinsho. Japanese journal of clinical medicine,64(12Ư), 2194- 2200.
  4. Kanis, J.A (2002).Diagnosis of osteoporosis and assessment of fracture risk.The Lancet,359(9321): 1929-1936.
  5. Trần Ngọc Ân (1999).Bệnh Loãng xương,Bệnh Thấp khớp. NXB Y học Hà Nội, 22-32.
  6. Cấn Xuân Quý và cộng sự (2011). “Nghiên cứu mật độ xương ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp”. Luận văn Thạc sỹ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội.
  7. Ngô Thị Mai Xuân và cộng sự (2007). “Nhận xét mật độ xương ở bệnh nhân nữ đái tháo đường typ 2 và các yếu tố liên quan”. Luận văn Bác sỹ Chuyên khoa II”. Trường Đại học Y Hà Nội.
  8. Trịnh Xuân Tráng, Lưu Thị Bình, Nguyễn Tiến Đoàn (2014). “Đánh giá tình trạng mật độ xương ở các bệnh nhân nữ Basedow tại BV Đa khoa tỉnh Phú Thọ”. Tạp chí Y học Việt Nam, tháng 8/ số đặc biệt, 149-157.
  9. Mai Thị Minh Tâm và cộng sự (2002). “Nghiên cứu mật độ xương ở bệnh nhân nữ Basedow tại Bệnh viện Bạch Mai”. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Chuyên khoa
  10. Trường Đại học Y Hà Nội.
  11. Fraser SA, Smith DA, Anderson JB, Wilson GM (1971). “Osteoporosis and fractures following thyrotoxicosis”. The Lancet, 981-983.
  12. Foldes J, Lakatos P (1995). “Thyroid and osteoporosis”. Clin Endocrinol (Oxf), 43(3), 339-45.
Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Quản lý đái tháo đường trong đại dịch COVID-19 – GS.TS Nguyễn Hải Thủy

Chia sẻ bài viết