Khảo sát kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Đại học Y dược Huế

Chia sẻ bài viết

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

Dương Thị Ngọc Lan1, Lê Văn An1, Nguyễn Thị Tơ1, Nguyễn Thị Nguyệt2

1Trường Đại học Y Dược Huế

2Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Trị

DOI: 10.47122/vjde.2022.57.5

ABSTRACT

Knowledge, behavior and factors related to foot care in diabetes patients at Hue University Hospital

Background: Diabetes can affect every part of the body, including the feet. Diabetes patient with improper knowledge and behavior will develop foot complications. Objectives: (1) Surveying the level of knowledge and behavior of foot care of diabetic patients at Hue University Hospital. (2) Investigate factors related to the level of knowledge and behavior of foot care in patients with diabetes. Research method: Cross-sectional description on 108 patients diagnosed with diabetes according to ADA 2017 standards. Modified Diabetic Foot Care Knowledge and Modified Diabetic Foot Care Behaviors Questionnaires were used. Results: The diabetic foot care knowledge score was at poor level (mean 6,33 ± 2,8) of which 13.9 % of them had good knowledge, 32.4% had moderate and 52.7% had poor knowledge. Diabetic foot care behaviors was at poor level (mean 54.36 ± 8.4) of which 64.8% had poor behaviors and 35.2% had moderate behaviors. Low education, time of diabetes for <5 years, no previous diabetes foot care instructions were predictive factors for poor DFCK and DFCB. Good knowledge of diabetic foot care can lead to good caring behavior. Age ≥65 has no effect on DFCB but has a negative effect on DFCK. Conclusion: The diabetic foot care knowledge score and diabetic foot care behavior score were poor. Health education counseling programs based on relevant factors should be provided to improve the self-care capacity of people with diabetes.

Keywords: Diabetes, Diabetic Foot Care Knowledge, Diabetic Foot Care Behaviors.

 TÓM TẮT

Đặt vấn đề: ĐTĐ có thể ảnh hưởng đến mọi bộ phận của cơ thể, trong đó có tổn thương bàn chân. Người bị ĐTĐ có kiến thức và hành vi không đúng sẽ phát triển các biến chứng trên bàn chân. Mục tiêu: (1)- Khảo sát mức độ kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện Đại học Y dược Huế. (2)- Khảo sát các yếu tố liên quan đến mức độ kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 108 bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chuẩn ADA 2017. Nghiên cứu đã sử dụng bộ câu hỏi về “Kiến thức chăm sóc bàn chân ĐTĐ” (DFCK) và bộ câu hỏi về “Hành vi chăm sóc bàn chân ĐTĐ” (DFCB). Kết quả nghiên cứu: Điểm kiến thức chăm sóc bàn chân của người ĐTĐ (DFCK) ở mức kém (điểm trung bình = 6,33 ± 2,8), trong đó có 13,9% kiến thức tốt, 43,4% trung bình và 53,7% kiến thức kém. Hành vi chăm sóc bàn chân của người ĐTĐ (DFCB) ở mức kém (điểm trung bình 54,36 ± 8,4), trong đó 64,8% có hành vi kém và 35,2% có hành vi trung bình. Trình độ học vấn thấp, thời gian mắc ĐTĐ <5 năm, không có hướng dẫn chăm sóc bàn chân ĐTĐ trước đó là những yếu tố dự báo DFCK và DFCB kém. Kiến thức tốt về chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ có thể dẫn đến hành vi chăm sóc tốt. Tuổi ≥65 không ảnh hưởng đến DFCB nhưng có ảnh hưởng không tốt lên DFCK. Kết luận: Cần cung cấp các chương trình tư vấn giáo dục sức khoẻ dựa vào các yếu tố liên quan để nâng cao năng lực tự chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ.

Từ khóa: ĐTĐ, kiến thức chăm sóc chân ĐTĐ, hành vi chăm sóc chân ĐTĐ

Tác giả liên hệ: Dương Thị Ngọc Lan

Email:

Ngày nhận bài: 15/9/2022

Ngày phản biện khoa học: 15/10/2022

Ngày duyệt bài: 5/11/2022

 

1.  ĐẶT VẤN ĐỀ

ĐTĐ type 2 là một bệnh mạn tính không di truyền, bệnh đã trở thành một vấn đề y tế nghiêm trọng trên toàn thế giới với nhiều biến chứng liên quan như tim mạch, mắt, thận… ĐTĐ có thể ảnh hưởng đến mọi bộ phận của cơ thể, nhưng nó thường liên quan đến bàn chân đầu tiên. Chìa khóa để điều trị căn bệnh này là đi trước và điều trị sớm hơn khi bệnh ĐTĐ tiến triển. Cần khẩn cấp thay đổi mô hình để điều trị phòng ngừa bệnh bàn chân do ĐTĐ. Các vết loét ở chân sẽ bị nhiễm trùng, cần phải nhập viện và 20% các trường hợp nhiễm trùng chi dưới sẽ dẫn đến cắt cụt chi [1]. Người bị ĐTĐ có kiến thức và hành vi không đúng sẽ phát triển các biến chứng trên bàn chân. Sự hiện diện của các biến chứng bàn chân có thể tác động tiêu cực về thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội cũng như kinh tế của các bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ.

Các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của bệnh nhân trong việc thực hiện các hành vi chăm sóc bàn chân. Vì vậy việc chăm sóc bàn chân phù hợp là điều cần thiết để ngăn ngừa loét chân do ĐTĐ. Những yếu tố nào đã cản trở đến việc không chăm sóc tốt bàn chân ở bệnh nhân đái tháo là một vấn đề rất cần thiết nhằm hạn chế, loại bỏ những yếu tố đó. Tuy nhiên, cho đến nay, các dữ liệu về kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân và các yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc bàn chân chưa được nghiên cứu nhiều. Do đó, mục đích của nghiên cứu này là để khảo sát kiến thức và hành vi tự chăm sóc bàn chân và xác định các yếu tố dự báo của nó. Mục tiêu nghiên cứu:

-Khảo sát mức độ kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện Đại học Y dược Huế.

-Khảo sát các yếu tố liên quan đến mức độ kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ.

 

2.  ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.  Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo tiểu chuẩn chẩn đoán ADA 2017, khám và điều trị tại Khoa Nội Tổng hợp Nội Tiết Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân lú lẫn không thể phỏng vấn trực tiếp; bệnh nhân không hợp tác phỏng vấn.

2.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ

Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chuẩn ADA 2017[2].

2.2.  Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt Thời gian từ ngày 30/07/2021 đến ngày 30/07/2022. Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu, thử nghiệm bộ câu hỏi trên 20 người bệnh và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu.
  • Cỡ mẫu: n=

Cỡ mẫu nghiên cứu cần có; P: Tỷ lệ mẫu ước tính; α: Mức ý nghĩa thống kê thường là 0.05; d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tham số mẫu và tham số quần thể; Z(1-α/2): Giá trị Z thu được tương ứng với mức ý nghĩa thống kê mong muốn.

Dựa trên kết quả nghiên cứu của Sulistyo AHS và các cộng sự năm 2018 [3] có 86,4% BN có hành vi thực hành chăm sóc bàn chân chưa đạt và 38,5% bệnh nhân có kiến thức chăm sóc bàn chân không tốt. Quy ước α = 0,05, đối chiếu α từ bảng Z ta được  = 1,96.

Chọn d = 0,05 sai số cho phép là 5%. Thay vào công thức ta tính được n = 92.

Chọn tất cả bệnh nhân ĐTĐ vào khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ ngày 30/07/2021 đến ngày 30/07/2022, được 108 bệnh nhân.

-Nội dung nghiên cứu: Kiến thức chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân đái tháo đường, hành vi chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân ĐTĐ và các thông tin chung của bệnh nhân: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, thời gian mắc bệnh, từng được hướng dẫn về chăm sóc bàn chân, vết loét bàn chân, điều kiện sống.

-Công cụ đo lường

Hai bộ câu hỏi đã được sử dụng trong nghiên cứu, gồm bộ “Kiến thức chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân ĐTĐ đã điều chỉnh” (MDFCK – Modified Diabetic Foot Care Knowledge) và bộ “Hành vi chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân ĐTĐ đã điều chỉnh” (MDFCB – Modified Diabetic Foot Care Behaviors) [3, 4]. MDFCK và MDFCB được dịch ra tiếng Việt sau đó dịch ngược ra tiếng Anh để kiểm tra độ chính xác, sau đó bộ câu hỏi được gửi xin ý kiến 3 chuyên gia về ĐTĐ. Sau các đề xuất của các chuyên gia, bộ câu hỏi được điều chỉnh và thực hiện thử trên 20 bệnh nhân, những người có các đặc điểm tương tự với mẫu nghiên cứu, đã được kiểm tra trong kiểm tra độ tin cậy của bảng câu hỏi. Tính nhất quán nội bộ và độ tin cậy của bảng câu hỏi MDFCK và MDFCB được phân tích bằng hệ số Cronbach’s alpha với kết quả lần lượt là 0,78 và 0,85.

+ Đánh giá kiến thức về chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ: dựa vào bộ câu hỏi DFCK. Bộ câu hỏi này bao gồm 15 mục, trong đó quản lý ĐTĐ chung (5 mục), ngăn ngừa chấn thương bàn chân (2 mục), kiểm tra tình trạng bàn chân (2 mục), vệ sinh bàn chân (3 mục), giày dép phù hợp (2 mục) và chăm sóc móng chân (1 mục) [4].

 

Dựa vào câu trả lời của người bệnh để đánh giá kiến thức tự chăm sóc bàn chân. Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm, sau đó tính tổng điểm kiến thức, điểm dao động từ 0-15 điểm.

Công thức tính điểm là: Điểm tiêu chuẩn = (điểm thực tế / điểm tối đa) * 100

Mức độ kiến thức được chia thành 3 mức độ với mức độ dựa vào điểm tiêu chuẩn:

Kém (<60), Trung bình (60-80) và Tốt (> 80) [4].

+ Đánh giá hành vi chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ: dựa vào bộ câu hỏi DFCB đã được phát triển bởi Kurniawan và cộng sự (2011). Bộ câu hỏi bao gồm 34 mục, bao gồm quản lý ĐTĐ chung (4 mục), kiểm tra tình trạng bàn chân (4 mục), vệ sinh bàn chân (4 mục), giày dép phù hợp (11 mục), kem dưỡng ẩm chân (2 mục), chăm sóc móng chân (5 mục), phòng chấn thương bàn chân (1 mục) và điều trị vết thương ở chân (3 mục). Mỗi câu trả lời được đo bằng thang đo Likert (0-3) trong đó “0” đại diện cho “không bao giờ thực hành” và “3” đại diện cho “luôn luôn thực hành”. Công thức tính điểm là: Điểm tiêu chuẩn = (điểm thực tế / điểm tối đa) * 100

Mức độ kiến thức được chia thành 3 mức độ với mức độ dựa vào điểm tiêu chuẩn:

Kém (<60), Trung bình (60-80) và Tốt (> 80) [4].

  • Xử lý số liệu: Dữ liệu được phân tích bằng SPPS 0. Các biến nhân khẩu học được đánh giá bằng cách sử dụng thống kê mô tả (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần số). Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện để xác định các yếu tố dự báo kiến thức chăm sóc bàn chân ĐTĐ hành vi tự chăm sóc bàn chân ĐTĐ.

3.  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.  Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đa số bệnh nhân có TĐHV là tiểu học và không biết chữ chiếm tỷ lệ làn lượt là 40,7% và 24,1%. 81,5% bệnh nhân chưa từng được hướng dẫn chăm sóc bàn chân trước đó.

3.2 Kiến thức về chăm sóc bàn chân ĐTĐ theo thang điểm MDFCK

Nhận xét: Đa số những người tham gia có mức độ trung bình về kiến thức là 32,4%, mức độ tốt là 13,9% và mức độ kém là 53,7%.

Những biến có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi phân tích tương quan với kiến thức chăm sóc bàn chân và thực hành chăm sóc bàn chân (r >0,25) được đưa vào phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến và đa biến.

Nhận xét: Kết quả phân tích hồi quy đa biến, hệ số tương quan chung là 0,485 và tất cả 7 yếu tố này chỉ giải thích được 23,5% (R²=0,235) sự thay đổi điểm trung bình về hành vi chăm sóc bàn chân của BN ĐTĐ.

Khi phân tích đồng thời tất cả các biến độc lập với hành vi chăm sóc bàn chân thì chỉ có 3 biến độc lập (có kiến thức tốt/trung bình về chăm sóc bàn chân, THPT, thời gian mắc ĐTĐ <5 năm) là có ý nghĩa thống kê giải thích sự thay đổi điểm trung bình hành vi chăm sóc bàn chân với p < 0,05.

Trong đó, biến được hướng dẫn trước đây về chăm sóc bàn chân (β = 3,960; p < 0,001) và THPT (β = 8,172; p<0,001) thì có hành vi chăm sóc bàn chân tốt hơn các nhóm khác, tiền sử mắc bệnh < 5 năm (β = – 4,907; p = 0,001) thì có hành vi chăm sóc bàn chân kém hơn nhóm khác.

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm trung bình MDFCB với 3 biến độc lập là hưu trí, thành thị, dân tộc kinh.

4. BÀN LUẬN

Kiến thức chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường liên quan đến phát triển loét bàn chân.

Có đầy đủ kiến thức về chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ đã được chứng minh giảm sự phát triển các biến chứng ở bàn chân, đặc biệt là loét bàn chân [5].

Trong này nghiên cứu này, phần lớn bệnh nhân có giới hạn kiến thức liên quan đến phòng ngừa loét bàn chân. Biểu hiện là đa số người tham gia có kết quả kém đến mức độ trung bình của kiến thức chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ.

Có một số đặc điểm của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến kết quả kiến thức về chăm sóc bàn chân, đó là tuổi và trình độ học vấn.

Tuổi trên 65 thường liên quan đến thoái hóa và giảm hoặc rối loạn chức năng sinh lý. Có thể do giảm khả năng hiểu và ghi nhớ những kiến thức liên quan đến việc chăm sóc bàn chân, sự lão hóa.

Ngoài ra, trình độ học vấn có khả năng ảnh hưởng đến kết quả của kiến thức chăm sóc bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ của những người tham gia. Những người học từ trung học phổ thông trở lên có kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân tốt hơn. Hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu này là có trình độ học vấn ở mức tiểu học hoặc mù chữ nên kiến thức và hành vi chăm sóc bàn chân chủ yếu ở mức độ kém và trung bình.

Kiến thức, cũng như các hành vi tốt của những người tham gia, là cần thiết để ngăn ngừa loét chân. Dựa trên kết quả của bảng 3.5 của nghiên cứu này, có 64,8% bệnh nhân có hành vi chăm sóc bàn chân kém và điểm tiêu chuẩn trung bình cho hành vi chăm sóc bàn chân là 54,36, có thể được phân loại là kém.

Nghiên cứu “Hành vi tự chăm sóc bàn chân và các yếu tố dự báo của nó ở BN ĐTĐ ở Indonesia” của Yunita Sari trên 546 bệnh nhân ĐTĐ týp 2 đăng ký tại 22 trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Indonesia vào năm 2018 có điểm tiêu chuẩn trung bình là 47,4 [6], cũng được phân ở mức độ kém. và nghiên cứu “Kiến thức và “Hành vi chăm sóc chân cho người ĐTĐ những người mắc bệnh ĐTĐ ở Indonesia” trên 81 người tham gia bệnh nhân ĐTĐ tại Trung tâm Y tế công cộng Bojonegoro, Đông Java, Indonesia vào năm 2018 của Sulistyo là 46,7, và có tới 70/81 BN có hành vi chăm sóc kém, cũng tương tự như nghiên cứu của tôi [7].

Điều này chứng tỏ, BN ĐTĐ chưa thực sự quan tâm đến bàn chân của mình, cụ thể hơn, các vấn đề đạt điểm kém là: điều trị chấn thương chân, kiểm tra tình trạng bàn chân, ngăn ngừa chấn thương chân, quản lí bệnh ĐTĐ, vệ sinh chân, sử dụng kem dưỡng ẩm cho chân, và sử dụng giày dép phù hợp.

Kiến thức chăm sóc bàn chân bệnh nhân ĐTĐ cho thấy dẫn đến mức độ tốt của các hành vi chăm sóc bàn chân. Vì vậy, các chiến lược để tăng cường chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân ĐTĐ về kiến thức và hành vi là rất quan trọng.

Cần một số cải tiến của chiến lược giáo dục để duy trì kiến thức và hành vi liên quan đến bàn chân cho người bệnh.

 

5.  KẾT LUẬN

–  Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ thực hành chăm sóc bàn chân

+ Mức độ kiến thức chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ phần lớn ở mức kém với điểm tiêu chuẩn trung bình cho hành vi chăm sóc bàn chân là 6,33. Trong đó mức kém với tỷ lệ là 53,7%, 32,4% là mức độ trung bình, 13,9% mức độ tốt.

+ Mức độ hành vi chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ phần lớn ở mức kém với điểm tiêu chuẩn trung bình cho hành vi chăm sóc bàn chân là 54,36. Trong đó mức kém với tỷ lệ là 64,8%, chỉ có 35,2,% là mức độ trung bình, 0% mức độ tốt.

–  Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân ĐTĐ

Trình độ học vấn thấp, thời gian mắc ĐTĐ

<5 năm, không được hướng dẫn chăm sóc bàn chân ĐTĐ trước đó là những yếu tố dự báo DFCK và DFCB kém.

Kiến thức tốt về chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ có thể dẫn đến hành vi chăm sóc tốt. Tuổi ≥65 không ảnh hưởng đến DFCB nhưng có ảnh hưởng không tốt lên DFCK.

KIẾN NGHỊ:

Điều dưỡng cần tăng cường việc giáo dục về kiến thức nhằm nâng cao hành vi chăm sóc bàn chân của BN ĐTĐ.

Điều dưỡng nên chú ý giáo dục cho những nhóm đối tượng có trình độ học vấn thấp, bổ sung kiến thức, tăng cường hướng dẫn, nâng cao năng lực hành vi chăm sóc bàn chân, đặc biệt nhóm BN không biết chữ, TH, THCS, nhóm tuổi ≥65.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ibrahim, A., IDF Clinical Practice Recommendation on the Diabetic Foot: A guide for healthcare professionals. Diabetes Res Clin Pract, 2017. 127: p. 285-287.
  2. Association, A.D., Classification and Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes—2021. Diabetes Care, 2020. 44(Supplement_1): p. S15-S33.
  3. Sulistyo AHS, -S.W., Maneewat K, Diabetic  Foot  Care  Knowledge  and Behaviors of Individuals with Diabetes Mellitus in Indonesia. GSTF Journal of Nursing and Health Care (JNHC), 2018. 5(1).
  1. Hasnain, S. and N.H. Sheikh, Knowledge and practices regarding foot care in diabetic patients visiting diabetic clinic in Jinnah Hospital, Lahore. The Journal of the Pakistan Medical Association, 2009. 59 10: p. 687-90.
  2. Muhammad-Lutfi, A.R., M.R. Zaraihah, and I.M. Anuar-Ramdhan, Knowledge and Practice of Diabetic Foot Care in an In- Patient Setting at a Tertiary Medical Center. Malays Orthop J, 2014. 8(3): p. 22-6.
  3. Sari, Y., et al., “Foot self-care behavior and its predictors in diabetic patients in Indonesia”. BMC Research Notes, 2020. 13(1): p. 38.
  4. Ahs, S., S. Sia W, and M. K, “Diabetic Foot Care Knowledge and Behaviors of Individuals with Diabetes Mellitus in Indonesia”. GSTF Journal of Nursing and Health Care, 2018.
Print Friendly, PDF & Email

About dacdien

Check Also

Nhiều chế độ ăn, một nguyên lý dinh dưỡng

Chia sẻ bài viếtNHIỀU CHẾ ĐỘ ĂN, MỘT NGUYÊN LÝ DINH DƯỠNG!       …