Nghiên cứu tỷ lệ bệnh bướu cổ của trẻ em 8-10 tuổi và kiến thức – thực hành của phụ nữ 18-49 tuổi về phòng chống các rối loạn thiếu i-ốt tại Bình Định năm 2015

Chia sẻ bài viết

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ BỆNH BƯỚU CỔ CỦA TRẺ EM 8-10 TUỔI VÀ KIẾN THỨC – THỰC HÀNH CỦA PHỤ NỮ 18-49 TUỔI VỀ PHÒNG CHỐNG CÁC RỐI LOẠN THIẾU I-ỐT TẠI BÌNH ĐỊNH NĂM 2015

BSCK2. Hoàng Xuân Thuận

Trung tâm phòng chống Sốt rét & các bệnh Nội tiết Bình Định

TÓM TẮT

Mục tiêu đề tài :  Xác định tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em từ 8- 10 tuổi và  Đánh giá độ bao phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh và kiến thức-thực hành phòng chống các rối loạn thiếu i-ốt của phụ nữ 18-49 tuổi ở tỉnh Bình Định.Kết quả 1.  Tỷ lệ bướu cổ chung ở trẻ em 8-10 tuổi là 6,6% (độ I là 6,3%, độ II là 0,3%); Tỷ lệ bướu cổ ở nữ 8,7% cao hơn ở nam 4,6%. Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em 8 tuổi:4%;9 tuổi: 9,2%; 10 tuổi: 6,7%.Vùng miền núi có tỷ lệ mắc bướu cổ cao nhất: 11,7%, vùng trung du: 6,7%; vùng đồng bằng : 6,5%; thành thị: 5,0%. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em dân tộc H’re :16,1%, Chăm: 10%, Kinh: 6,3%. Trẻ em có mức i-ốt niệu < 10mcg/dl có 12,2% mắc bướu cổ, ở mức đủ i-ốt từ 10- 20mcg/dl có 5,6% trẻ em mắc bướu cổ, ở mức i ốt > 20mcg/dl có 6,8% trẻ mắc bướu cổ.

2.1. Độ bao phủ muối i-ốt Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh đạt 85,8%; có 9,5% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt không đủ tiêu chuẩn phòng bệnh( <20 PPm); và 4,7% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt > 40 PPm.

2.2. Kiến thức-thực hành phòng chống CRLTI của phụ nữ 98,5%  phụ nữ có hiểu biết tác hại của thiếu i-ốt; trong  số đó:  7,1% hiểu biết đầy đủ; 92,9% hiểu biết không đầy đủ. 99,5% không biết quy định về việc buôn bán và sản xuất muối i ốt. 18,5% bảo quản muối i-ốt không đúng cách như để ở trên hoặc gần bếp lửa, 17,1% để muối i ốt trong đồ đựng hở.

Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Xuân Thuận

Ngày nhận bài: 11.11.2016

Ngày phản biện khoa học: 24.11.2016

Ngày duyệt bài: 1.12.2016

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

I-ốt là một vi chất rất cần thiết cho đời sống con người, nó là nguyên tố rất quan trọng  để tổng hợp hormon tuyến giáp, đây là hormon cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người.Thiếu i-ốt sẽ gây nên một loạt các rối loạn, nếu thiếu ở trong giai đoạn bào thai thường gây nên những tổn thương về não làm chậm phát triển trí tuệ của trẻ em.Tầm quan trọng của i-ốt không thể phủ nhận, nên Bộ Y tế đã đưa ra mục tiêu thanh toán các rối loạn  do thiếu i-ốt đến năm 2005. Bình Định  cũng đã đạt mục tiêu với 3 chỉ số cơ bản: tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10 tuổi (4,7%), mức i-ốt niệu trung vị (12,64mcg/dl) và độ phủ muối i-ốt (98,76%).

Tuy nhiên,đến năm 2011 Bình Định có độ bao phủ muối i-ốt  thấp hơn so với năm 2005 và có tới 15% số người điều tra có trung vị i-ốt niệu rất thấp thuộc diện thiếu i ốt vừa và nặng. Với mục đích làm sáng tỏ giả thiết phải chăng các rối loạn do thiếu i ốt trên toàn tỉnh đang có dấu hiệu quay trở lại? Mức độ của nó như thế nào?từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp nhằm duy trì bền vững mục tiêu đã đạt được.Với lý do đó,chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mục tiêu:

  1. Xác định tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em từ 8- 10 tuổi của tỉnh Bình Định;
  2. Đánh giá độ bao phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh và kiến thức-thực hành phòng chống các rối loạn thiếu i-ốt của phụ nữ 18-49 tuổi ở tỉnh Bình Định.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

  • Trẻ em 8-10 tuổi và Phụ nữ 18-49 tuổi trên địa bàn tỉnh tỉnh;
  • Muối ăn hiện đang được sử dụng tại các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh
  • Nghiên cứu tại 30 xã/ phường/thị trấn thuộc tỉnh Bình Định;

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả, cắt ngang. Cỡ mẫu được tính theo
công thức:

– Cỡ mẫu điều tra tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10  tuổi:1800 em

– Cỡ mẫu cho điều tra của phụ nữ 18- 49 tuổi:  600 người

– Mẫu muối ăn : 600 mẫu

Chọn 30 cụm theo phương pháp PPS (Probability Proportionate to Size)

Trẻ em được khám bướu cổ có kết hợp lâm sàng và siêu âm và lấy 300 mẫu nước tiểu để xét nghiệm i-ốt. Mỗi hộ gia đình sẽ phỏng vấn 1 phụ nữ theo bảng câu hỏi được soạn sẵn, lấy 300 mẫu nước tiểu của phụ nữ để xét nghiệm i-ốt.

Mẫu muối được thử test nhanh bằng kít và bảo quản, đem về định lượng tại phòng xét nghiệm Trung tâm Phòng chống sốt rét-Các bệnh nội tiết Bình Định. Nước tiểu được xét nghiệm ở Trung tâm dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh.

2.4.7. Phương pháp xử lý, phân tích
số liệu

Số liệu điều tra được nhập bằng chương trình EPIDATA và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS. Các test thống kê trong y học được ứng dụng để xử lý số liệu.

III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em

3.1.1. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo độ bướu    

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em

Tỷ lệ bướu cổ trẻ em 6,6%, trong đó độ I là 6,3%, độ II là 0,3%

3.1.2. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo giới tính

Bảng 3.1. Phân bố tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo giới tính

Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em nữ 8,7%, ở trẻ em nam là 4,6%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.1.3.Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo tuổi

Bảng 3.2.  Phân bố tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo tuổi

Tỷ lệ mắc bướu cổ ở trẻ em 8 tuổi (4%), 9 tuổi (9,2%) và 10 tuổi (6,7%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p < 0,05.

3.1.4. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo vùng

Bảng 3.3. Phân bố tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo vùng

Tỷ lệ mắc bướu cổ ở miền núi (11,7%), trung du (6,7%), đồng bằng (6,5%) và thành thị (5,0%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.2. Nồng độ i-ốt trong nước tiểu của
trẻ em

3.2.1. Nồng độ i-ốt chung trong nước tiểu của trẻ em

Bảng 3.4.  Nồng độ i ốt  trong nước tiểu của trẻ em

Trung vị i-ốt niệu của trẻ em là 15,99 mcg/dl, giá trị trung bình 19,27mcg/dl, giá trị tối thiểu là 1,46 mcg/dl và giá trị tối đa là 96,25 mcg/dl.

3.2.2. Tỷ lệ i-ốt niệu của trẻ em theo
các mức

Bảng 3.5. Tỷ lệ nồng độ i-ốt niệu của trẻ em theo các mức

Có 23,7% số trẻ em có biểu hiện thiếu i-ốt ở các mức độ (< 2mcg/dl: 1,3%; 2-4,9mcg/dl: 5,4%; 5-9,9mcg/dl: 17%). Đồng thời, có 41,3% số trường hợp ở mức 10-20 mcg/dl và 35% số trường hợp ở mức > 20mcg/dl.

3.2.3. Tỷ lệ trẻ em có bướu cổ ở các mức iốt niệu khác nhau

Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ trẻ em có bướu cổ ở các mức iốt niệu khác nhau

Ở mức i-ốt niệu từ 2-4,9mcg/dl có 6,3%  trẻ em mắc bướu cổ, mức 5-9,9mcg/dl có 5,9%, mức 10-20 mcg/dl có 5,6% , và ở mức >20 mcg/dl có 3,8% trẻ em mắc bướu cổ.

3.3.  Kiến thức của phụ nữ về phòng chống các rối loạn thiếu i ốt

Bảng 3.7. Hiểu biết của phụ nữ về tác hại của thiếu i-ốt

Có 98,5% phụ nữ hiểu biết về tác hại của thiếu i-ốt (nhưng chỉ có 7,1% hiểu biết đầy đủ, 92,9% biết không đầy đủ). 1,5% hoàn toàn không biết về tác hại của thiếu i-ốt.

Biểu đồ 3.2. Hiểu biết quy định về buôn bán muối i-ốt

99,5% không biết quy định việc buôn bán muối i-ốt; có 0,5% là có biết quy định việc mua bán muối i-ốt.

3.4. Thực hành việc phòng chống các rối loạn thiếu  i-ốt

Biểu đồ 3.3. Thực hành về việc bảo quản muối i-ốt

81,5% số hộ gia đình bảo quản muối i-ốt đủ xa không ảnh hưởng bởi hơi nóng của bếp. 18,5% bảo quản muối i-ốt ở trên hoặc gần bếp.

Bảng 3.8. Tình trạng bảo quản MI

82,9% bảo quản muối i-ốt kín . 17,1% bảo quản muối i-ốt hở

Bảng 3.9. Tỷ lệ hộ gia đình dùng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh

Có 85,8% hộ gia đình dùng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh (20-40 PPm); có 14,2% hộ gia đình dùng muối i-ốt không đủ tiêu chuẩn phòng bệnh (trong đó 9,5%; < 20 PPm và 4,7%; > 40 PPm).

3.5. I-ốt niệu của phụ nữ 18-49 tuổi

Bảng 3.10. Kết quả i-ốt niệu của phụ nữ từ 18-49 tuổi

Trung vị i-ốt niệu (15,22mcg/dl); trung bình (19,66mcg/dl); tối thiểu (0,13 mcg/dl); tối đa (78,88 mcg/dl), trị số SD = 15,42.

Bảng 3.11. Phân bố i-ốt trong mẫu nước tiểu của phụ nữ tuổi 18-49 tuổi

Trong số mẫu nước tiểu của phụ nữ; có 31% thiếu i-ốt ( trong đó; thiếu nặng 1,7% < 2mcg/dl; thiếu vừa 8,0% từ 2-4,9 mcg/dl;thiếu nhẹ 21,3% từ 5-9,9 mcg/dl); 69% đủ i-ốt (trong đó; có 36,7% hàm lượng i-ốt cao > 20 mcg/dl; chỉ có 32,3% đủ i-ốt theo tiêu chuẩn của TCYTTG).

IV. BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ mắc bướu cổ trẻ em

4.1.1. Tỷ lệ bướu cổ chung

Tỷ lệ bướu cổ trẻ em là 6,6% trong đó độ I là 6,3% và độ II là 0,3% ( biểu đồ 3.1)  kết quả  này tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nga và cộng sự (2012) tiến hành ở Đồng Tháp:tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10 tuổi là 6,51% [9], cao hơn một số tỉnh như Điện Biên 4,6%, Quảng Ninh 5%, Hòa Bình  6,07% (2008), hoặc Hà Nam tỷ lệ mắc bướu cổ 4%, Bình Định năm 2011 là 3,9%. Kết quả của chúng tôi cũng thấp hơn một số địa phương điều tra ở cùng lứa tuổi 8-10 như ở Lạng Sơn 13%, Trà Vinh tỷ lệ mắc bướu cổ 15% , tỉnh Tiền Giang 4,1% [1],[2],[28],[11]. Như vậy tỷ lệ mắc bướu cổ trẻ em ở Bình Định gia tăng báo hiệu tình trạng các rối loạn thiếu i-ốt có nguy cơ quay trở lại ?

4.1.2. Tỷ lệ bướu cổ của trẻ em theo
giới tính

Số liệu phân tích ở bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ bướu cổ trẻ em nam (4,6%) thấp hơn tỷ lệ bướu cổ trẻ em nữ (8,7%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. So sánh với một số nghiên cứu trong nước như của Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (1998) cho thấy tỷ lệ bướu cổ của trẻ em nam là 13,9% và nữ là 15,8% [5], nghiên cứu của Hoàng Ngọc Minh ở thành phố Tam Kỳ năm 2009 tỷ lệ bướu cổ trẻ em nam 3,76% và trẻ em nữ là 6,5% . Tại Kon Tum năm 2008 của Trần Thanh Hiền, tỷ lệ bướu cổ trẻ em nam 2,9% và nữ 7,6% [6]. Tất cả dữ liệu so sánh cho thấy nghiên cứu này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỷ lệ bướu cổ trẻ em nữ cao hơn trẻ em nam. Điều này được giải thích, vì trẻ em nữ thời kỳ này phát triển mạnh và nhiều em dậy thì sớm, nên nhạy cảm với sự thiếu i-ốt hơn so với trẻ em nam.

4.1.3. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo tuổi

Trong nghiên cứu ở đây cho thấy tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8 tuổi 4%, 9 tuổi 9,2% và 10 tuổi là 6,7% và sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (bảng 3.2). Tương đương với số liệu của một số tác giả khác  như Nguyễn Quang Thiện Lâm (2009) cho thấy tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em 8, 9, 10 tuổi lần lượt là 3,8%; 3,2% và 4,4% [8]. Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Minh tại thành phố Tam Kỳ (2009) cho tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8, 9, 10 tuổi lần lượt là 4,87%; 6,15% và 4,36% .

4.1.4. Tỷ lệ bướu cổ trẻ em theo vùng

Kết quả vùng miền núi tỷ lệ bướu cổ trẻ em 11,7%, đồng bằng 6,5%, trung du 6,7%, thành thị 5% (bảng 3.3), kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương (2003) ở trẻ em 8-10 tuổi tại vùng miền núi phía Bắc tỷ lệ bướu cổ 5,2% đồng bằng Bắc bộ 5,2%, miền đông Nam bộ 4,3% [1]. Như vậy, tại Bình Định tỷ lệ bướu cổ trẻ em còn cao, đặc biệt là ở khu vực miền núi, có lẽ do điều kiện sống ở vùng đất nghèo i-ốt, nên các lương thực, thực phẩm từ vật nuôi, cây trồng ở vùng này cũng bị thiếu i-ốt do đó dẫn đến nguồn cung cấp i-ốt cho con người ở vùng này cũng bị thiếu và dẫn đến tỷ lệ bướu cổ trẻ em cao hơn ở các vùng khác.

4.1.5. Nồng độ i ốt trong nước tiểu của trẻ em                                                           

Kết quả i-ốt trung vị là 15,99mcg/dl, giá trị tối thiểu 1,46mcg/dl, giá trị tối đa 96,25 mcg/dl( bảng 3.4). Như vậy trung vị i-ốt niệu lớn hơn 10mcg/dl, mức i-ốt niệu của trẻ em 8-10 tuổi tỉnh Bình Định nằm ở mức khuyến cáo của TCYTTG/ICCIDD [12],[13]. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp có mức i-ốt niệu quá thấp 1,46mcg/dl hoặc quá cao 96,25mcg/dl. Theo cách phân của TCYTTG và Việt Nam trong nghiên cứu của chúng tôi vẫn có tỷ lệ 23,7% trẻ em có biểu hiện thiếu i-ốt ở các mức độ: (i) thiếu i-ốt nặng 1,3% (i-ốt niệu < 2mcg/dl); (ii) thiếu i-ốt mức trung bình 5,4% (i-ốt niệu 2-4,9 mcg/dl); (iii) thiếu i-ốt nhẹ 17% (i-ốt niệu 5-9,9mcg/dl); (iv) đủ i-ốt 41,3% (i-ốt niệu 10-20mcg/dl); (v) có biểu hiện thừa i-ốt 35% (i-ốt niệu
> 20mcg/dl) (bảng 3.5).

Kết quả của chúng tôi tương đương thành phố Tam Kỳ là 14,8mcg/dl cao hơn nghiên cứu tại Tiền Giang là 10,2mcg/dl, Nghệ An là 10,1mcg/dl, nghiên cứu của Bệnh viện nội tiết Trung ương năm 2012 là 8,4mcg/dl. Tuy nhiên, mức độ đủ i-ốt tại Bình Định mới chỉ đạt 41,3%. Theo tiêu chuẩn phân vùng thiếu i-ốt của TCYTTG/ICCIDD năm 1993 thì ngoài giá trị trung vị của i-ốt niệu, tỷ lệ số mẫu có nồng độ i-ốt trên 10mcg/dl phải  đạt trên 50% thì được gọi là vùng không thiếu i-ốt. Tuy vậy, số mẫu thừa i-ốt trên 20mcg chiếm tới 35%, thiếu i-ốt dưới 10mcg/dl là 23,7% [7],[8],[12],[13].

Xét về mối liên quan giữa tỷ lệ bướu cổ trẻ em với các mức i-ốt niệu khác nhau chúng tôi thấy với mức trung vị i-ốt niệu < 10mcg/dl có 12,2% trẻ em mắc bướu cổ( 6,3% ở mức trung vị i-ốt niệu 2-4,9mcg/dl; 5,9% ở mức trung vị i-ốt niệu 5-9,9mcg/dl). Ở mức 10-20mcg/dl chỉ có 5,6% mắc bướu cổ, và ở mức > 20mcg/dl có 3,8% mắc bước cổ (bảng  3.5). Như vậy, với mức i-ốt niệu không đủ theo khuyến cáo của TCYTTG thì tỷ lệ mắc bướu cổ trẻ em là cao nhất (12,2%).

Với kết quả này cho thấy, mặc dù trẻ em có mức i-ốt niệu < 10mcg/dl vẫn có tỷ lệ 77,8% không có bướu cổ, có lẽ những trường hợp này đang trong tình trạng thiếu i-ốt tạm thời do nhiều nguyên nhân nên chưa có biểu hiện mắc bướu cổ. Theo một số nghiên cứu thì i-ốt thải ra theo nước tiểu hàng ngày tương tự với số lượng  hấp thu từ khẩu phần ăn, nước uống. Môi trường khi bị thiếu i-ốt do nhiều nguyên nhân, cơ thể có những cơ chế để thích nghi tùy theo mức độ thiếu i-ốt nhẹ hay nặng. Nhóm có nồng độ i-ốt niệu từ 10mcg/dl trở lên trên lâm sàng có 9,4% mắc bướu cổ (trong đó 5,6% ở mức 10-20 mcg/dl; 3,8% ở mức > 20mcg/dl). Có lẽ đây là những trường hợp bướu cổ tản phát mà do nhiều nguyên nhân chưa được làm rõ. Tình trạng này phản ánh những khó khăn trước đây chưa giải quyết được trong nghiên cứu nguyên nhân gây bướu cổ tản phát, trong đó có những khó khăn trong định lượng i-ốt niệu cũng như quy định tiêu chuẩn thiếu và đủ i-ốt [4].

Kết quả này tương đương nghiên cứu của Nguyễn Văn Chính, Trần Hữu Dàng cho  thấy nồng độ i-ốt niệu < 10mcg/dl trên lâm sàng có tỷ lệ mắc bướu cổ là 10,6%, nhóm có nồng độ i-ốt niệu từ 10mcg/dl trở lên có 6,46% mắc bướu cổ. [3].

4.2. Kiến thức của phụ nữ về muối i-ốt

Kết quả nghiên cứu có 98,5% có hiểu biết về tác hại của thiếu i-ốt, 1,5% hoàn toàn không biết (bảng 3.7),tuy nhiên, chỉ có 7,1% hiểu biết đầy đủ về tác hại của thiếu i-ốt. Quy  định về việc sản xuất và buôn bán muối i-ốt chỉ có 0,5% hiểu biết, còn lại 99,5% không biết. Điều này cho thấy công tác truyền thông trong những năm qua  mặc dù đã có tác động thiết thực tới công tác phòng chống CRLTI giúp việc nâng cao hiểu biết của người dân những kiến thức về lợi ích của việc dùng muối i-ốt, nhưng vẫn chưa được đầy đủ.

Điều này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tuyên truyền theo chiều sâu, chú ý tới công tác đào tạo huấn luyện cho cán bộ y tế, kết hợp các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ,chú ý tới đồng bào vùng sâu, vùng xa, những người  sản xuất, buôn bán muối …

4.3.Thực hành về việc bảo quản muối i-ốt

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy nơi bảo quản muối i-ốt tại các hộ gia đình có tới 18,5% để muối i-ốt ở trên bếp hoặc gần bếp lửa ( biểu đồ 3.3); 17,1% hộ gia đình bảo quản muối i-ốt ở các vật dụng hở  ( bảng 3.8). Việc bảo quản muối i-ốt không đúng cách như để gần bếp hoặc trong các đồ đựng không được kín sẽ dẫn đến lượng i-ốt trong muối bị hao hụt nhanh chóng, không bảo bảo chất lượng để phòng bệnh.

Việc bảo quản muối i-ốt của các hộ gia đình phụ nữ 18-49 tuổi tại Bình Định đạt yêu cầu 81,5% cao hơn so với nghiên cứu tại tỉnh Đồng Tháp (71%). Tuy nhiên vẫn chưa đạt yêu cầu Chương trình quốc gia phòng chống CRLTI đặt ra [9].

4.4. Độ phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh

Kết quả định lượng  muối i-ốt cho thấy có 85,8% sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh với hàm lượng i-ốt trong muối đạt 20-40Ppm vẫn còn 14,5% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt không đủ tiêu chuẩn phòng bệnh (bảng 3.9). So với mục tiêu phải trên 90% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh thì Bình Định không đạt yêu cầu. Nhưng kết quả cũng cao hơn một số địa phương khác như thị trấn Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp (71%), nghiên cứu của  Bệnh viện Nội tiết Trung ương  cho thấy độ phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh chỉ còn 58,4% trên toàn quốc, các chỉ số trên là một thực tế báo động CRLTI đang quay trở lại [8],[10].

4.5. Kết quả i ốt niệu của phụ nữ 18-49 tuổi

I-ốt niệu từ mẫu nước tiểu bất kỳ có thể được dùng để đánh giá tình trạng thiếu hụt i-ốt trên cộng đồng và được thể hiện bằng giá trị trung vị. Mức i-ốt niệu trung vị < 10mcg/dl được đánh giá là thiếu i-ốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả i-ốt niệu trung vị của phụ nữ 18-49 tuổi là 15,22mcg/dl, tối thiểu là 0,13mcg/dl. Tối đa 78,88 ± 15,42mcg/dl (bảng 3.10), các giá trị i-ốt niệu của phụ nữ cũng tương đương của trẻ em trong mẫu nghiên cứu, điều đó phản ánh tình trạng đủ i-ốt trong quần thể nghiên cứu ở tỉnh Bình Định. Tuy nhiên khi phân tích về các mức i-ốt niệu ở phụ nữ (bảng 3.11) cho thấy có 32,3% có mức i-ốt là 10-20 mcg/dl đạt mức khuyến cáo của TCYTTG, thấp hơn của trẻ em 41,3%.

Mức i-ốt niệu < 10mcg/dl là thiếu i ốt chiếm 31% (trong đó thiếu i-ốt nặng 1,7%, thiếu nhẹ 8%, thiếu vừa 21,3%) và có 36,7% có mức i-ốt niệu trên 20mcg/dl. Qua kết quả i-ốt niệu của trẻ em và phụ nữ 18-49 tuổi tại tỉnh Bình Định cho thấy mặc dù trung vị i-ốt niệu đạt yêu cầu của TCYTTG nhưng vẫn có 1 tỷ lệ lớn thiếu i ốt ở các mức độ với khoảng 35% ( ở trẻ em) và 36,7% (ở phụ nữ) mức i-ốt niệu cao hơn 20mcg/dl. Điều này cũng không tốt cho quá trình phòng chống CRLTI tại cộng đồng vì thừa i-ốt cũng có thể gây nên một số tác động bất lợi.

So sánh kết quả với mục tiêu của Chương trình và kết quả tỉnh Bình Định sau 10 năm kết thúc Chương trình quốc gia Phòng chống CRLTI cho thấy nếu mục tiêu của Chươngtrình quốc gia PCCRLTI với độ phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh 20-40PPm là 90-100%, trung vị i-ốt niệu là 10-20mcg/dl và tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10 tuổi là dưới 5% thì tỉnh Bình Định năm 2005 có độ phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh 20-40PPm là 98,76%, trung vị i-ốt niệu là 12,64mcg/dl và tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10 tuổi là dưới 4,7%.

Qua 3 chỉ số đánh giá của Chương trình quốc gia PCCRLTI , hiện nay Bình Định mới đạt được 1 chỉ số trung vị i-ốt niệu của trẻ em 15,99mcg/dl, còn 2 chỉ số tỷ lệ bướu cổ trẻ em và độ phủ muối i-ốt chưa đạt mục tiêu chương trình. Như vậy là vấn đề đặt ra là tiếp tục triển khai các biện pháp phòng chống CRLTI, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về lợi ích của dùng muối i-ốt, đồng thời phải sản xuất muối i-ốt đảm bảo chất lượng, phân phối bán lẻ rộng khắp để người dân dễ mua và sử dụng, đồng thời phải tăng cường khâu kiểm tra giám sát để muối i-ốt đảm bảo chất lượng cho người sử dụng.

V. KẾT LUẬN

1.Tỷ lệ bướu cổ của trẻ em 8-10 tuổi tỉnh Bình Định

– Tỷ lệ bướu cổ chung ở trẻ em 8-10 tuổi là 6,6% (độ I là 6,3%, độ II là 0,3%);

– Tỷ lệ bướu cổ ở nữ 8,7% cao hơn ở
nam 4,6%.

– Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em 8 tuổi: 4%;
9 tuổi: 9,2%; 10 tuổi: 6,7%.

– Vùng miền núi có tỷ lệ mắc bướu cổ cao nhất: 11,7%, vùng trung du: 6,7%; vùng đồng bằng : 6,5%; thành thị: 5,0%.

– Tỷ lệ bướu cổ trẻ em dân tộc H’re :16,1%, Chăm: 10%, Kinh: 6,3%.

– Trẻ em có mức i-ốt niệu < 10mcg/dl có 12,2% mắc bướu cổ, ở mức đủ i-ốt từ 10- 20mcg/dl có 5,6% trẻ em mắc bướu cổ, ở mức i ốt > 20mcg/dl có 6,8% trẻ mắc bướu cổ.

  1. Độ bao phủ muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh và kiến thức, thực hành phòng chống CRLTI của phụ nữ 18-49 tuổi

2.1. Độ bao phủ muối i-ốt

– Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh đạt 85,8%; có 9,5% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt không đủ tiêu chuẩn phòng bệnh( <20 PPm); và 4,7% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt > 40 PPm.

2.2. Kiến thức-thực hành phòng chống CRLTI của phụ nữ

– 98,5%  phụ nữ có hiểu biết tác hại của thiếu i-ốt; trong  số đó:  7,1% hiểu biết đầy đủ; 92,9% hiểu biết không đầy đủ.

– 99,5% không biết quy định về việc buôn bán và sản xuất muối i ốt.

– 18,5% bảo quản muối i-ốt không đúng cách như để ở trên hoặc gần bếp lửa, 17,1% để muối i ốt trong đồ đựng hở.

VI. KIẾN NGHỊ

– Tiếp tục duy trì các hoạt động phòng chống CRLTI, Trung Ương cần hỗ trợ địa phương về chuyên môn và kinh phí để duy trì các hoạt động thường quy .

– Cần tăng cường tuyên truyền về lợi ích của muối i ốt và các quy định của nhà nước với vấn đề sản xuất và cung cấp muối i ốt cho người ăn đồng thời củng cố hệ thống chuyên môn phòng chống CRLTI từ tỉnh đến huyện, xã;

– Triển khai hệ thống điều trị bệnh bướu cổ cho trẻ em và người lớn;

–  Tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề thiếu i ốt và nguyên nhân gây bướu cổ không phải do thiếu i-ốt;  cả vấn đề thừa i ốt ở một số đối tượng./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bệnh viện Nội tiết TW (2015), “Sơ bộ kết quả đánh giá tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8- 10 tuổi và KAP hộ gia đình về phòng chống CRLTI”
  2. Bộ Y tế (2003)“Quản lý Dự án phòng chống bướu cổ” Tài liệu hướng dẫn quản lý chương trình mục tiêu Quốc gia Phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, Hà nội tr. 190-197
  3. Nguyễn Văn Chính, Trần Hữu Dàng (2005)“Nghiên cứu bệnh bướu cổ ở lứa tuổi học sinh từ 8-10 tuổi tại tỉnh Lâm Đồng năm 2003”. Tạp chí Y học thực hành số 14-15/4/2005 ,Bộ Y tế , tr1110-1116.
  4. Đặng Trần Duệ (1996),“Bệnh tuyến giáp và Các rối loạn do thiếu i-ốt”, Nhà xuất bản Y học Hà nội.
  5. Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Trí Dũng và cộng sự (2002), “Tình hình bệnh bướu cổ địa phương tại một số huyện đồng bằng Bắc Bộ”, Vietnam Journal of Physiology 6(2) tháng 8/2002.
  6. Thanh Hiền (2008) “Nghiên cứu tình hình bệnh bướu giáp đơn thuần ở học sinh từ 8-10 tuổi tại Kon Tum năm 2008” Luận văn chuyên khoa cấp I chuyên ngành Y tế Công cộng.
  7. Nguyễn Văn Hoàn (2013), “Giải pháp giảm tỷ lệ bướu cổ học sinh ở độ tuổi 8- 10 trên địa bàn tỉnh Nghệ An”,Thông tin khoa học công nghệ Nghệ An số 1+2/2013.
  8. Quang Thiện Lâm (2010), “Nghiên cứu thực trạng sử dụng muối i ốt, mức i ốt niệu và tỷ lệ mắc bướu giáp học sinh 8- 12 tuổi tại Tỉnh Tiền Giang năm 2009”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Đại Học Huế.
  9. Nguyễn Ngọc Nga (2013), Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Tháp “Thực trạng thiếu i ốt trẻ em 8- 10 tuổi tỉnh Đồng Tháp năm 2012”.
  10. Chu Minh Tân (2008) “Đánh giá thực trạng các rối loạn do thiếu i ốt ở Hòa Bình sau 3 năm thanh toán 2006- 2008”, Báo Hòa Bình điện tử ngày 20/10/2008.
  11. TCVN 6341:1998. Muối iốt – Phương pháp xác định hàm lượng iốt.
  12. ICCIDD, UNICEF and WHO (1993), “Method D – Methods for measuring iodine in urine”: 46-48
  13. ICCIDD (2015) , Management council meeting of iodine global network (ING) at muscat (oman) 1st- 3rd april,  Jagriti.
  14. WHO, UNICEF, ICCIDD (2007) “Assessment of iodine dificiency disorders and monitoring their elimination. A guide for programme managers. 3rd edition”. World Health Organization.
Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Rối loạn Lipid máu do thuốc

Chia sẻ bài viếtRỐI LOẠN LIPID MÁU DO THUỐC Nguyễn Hải Thủy DOI: 10.47122/vjde.2021.47.8 TÓM …