Yếu tố liên quan đến ngã trên bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi

Chia sẻ bài viết

YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NGÃ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CAO TUỔI

1Nguyễn Thị Thùy Dương,2,3Nguyễn Thị Thu Hương,

2Nguyễn Xuân Thanh,2,3Vũ Thị Thanh Huyền

1Bệnh viện Nội tiết Nghệ An, 2Bệnh viện Lão khoa Trung ương,3Trường Đại học Y Hà Nội.

ABSTRACT

Falls risks in elderly patients with type 2 diabetes mellitus

Background: Falls is a common condition in older people, recent studies have indicated that elderly people with diabetes had higher rate of falls. Objective: To assess the prevelence of falls and related factors  in elderly patients with type 2 diabetes mellitus. Subjects and Methods: A cross-sectional study included of 310 patients aged ≥ 60 years at National Geriatric Hospital (190 patients diagnosed with type 2 diabetes according to WHO–2006 and 120 non-diabetic control subjects). Patients were interviewed using a designed questionnaire in order to assess falls, fall risk, demographic characteristics, activities of daily living (ADL), hypoglycemia and level of HbA1C. Results: The prevalence of fall in the past year in elderly patients with type 2 diabetes was higher than those in non-diabetic patients(44.7% and 32.5%, respectively, p=0.032).Impairment of ADL and high Fall Risk Index were associated with a higher incidence of falls (p <0.05). Factors related to multiple falls in elderly diabetic patients were: insulin therapy, history of hypoglycemia, low ADL scores, high Fall Risk Inde, high GDS-15 score, significantly. Conclusion: Diabetes mellitus increases the risk of falls in the elderly patients. Impairment of ADL and high Fall Risk Index were associated with increased fall rate. The history of hypoglycemia, insulin therapy, high Fall Risk Index and depression were associated with multiple falls in elderly type 2 diabetic patients.

Key words: Type 2 diabetes mellitus, falls, elderly.

TÓM TẮT

Tổng quan: Ngã là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi, các nghiên cứu gần đây cho thấy người cao tuổi mắc đái tháo đường (ĐTĐ) có tỷ lệ ngã cao hơn. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ ngã và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 310 bệnh nhân ≥ 60 tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương (190 bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ typ 2 theo tiêu chuẩn WHO 2006 và 120 người không có ĐTĐ. Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi thống nhất đánh giá tỷ lệ ngã, nguy cơ ngã (Fall  risk index), các chỉ số nhân trắc, hoạt động chức năng hàng ngày (Activities of Daily Living – ADL), hạ đường huyết, xét nghiệm HbA1C.  Kết quả: Tỷ lệ ngã trong một năm trước ở nhóm bệnh nhân cao tuổi có ĐTĐ typ 2 cao hơn so với nhóm không có ĐTĐ (44,7% với 32,5%, p

= 0,032). Suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày, điểm Fall Risk Index cao có liên quan tới tăng tỷ lệ ngã (p < 0,05). Các yếu tố liên quan tới tăng tình trạng ngã nhiều lần trên bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi là: liệu pháp điều trị insulin, tiền sử hạ đường huyết, suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày, điểm Fall Risk Index cao, trầm cảm (với p<0,05). Kết luận: ĐTĐ làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi. Suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày, điểm Fall Risk Index cao có liên quan tới tăng tỷ lệ ngã. Tiền sử hạ đường huyết, liệu pháp insulin, điểm Fall Risk Index cao và trầm cảm có liên quan với tình trạng ngã nhiều lần trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi.

Từ khóa: Đái tháo đường, ngã, cao tuổi.

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thùy Dương

Ngày nhận bài: 01/8/2018

Ngày phản biện khoa học: 18/8/2018

Ngày duyệt bài: 31/8/2018

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngã là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi, các nghiên cứu gần đây cho thấy người cao tuổi mắc ĐTĐ có tỷ lệ ngã cao  hơn. Theo nghiên cứu của Yuko Chiba và cộng sự (2015) trên 211 bệnh nhân ≥ 60 tuổi cho kết quả tỷ lệ ngã ở nhóm ĐTĐ cao gấp 2 lần so với nhóm không bị ĐTĐ (36,9% và 18,6%) [1]. Nghiên cứu của Mathew S. Maurer (2005) cho thấy tỷ lệ ngã ở nhóm ĐTĐ cao tuổi và nhóm không bị ĐTĐ tương ứng là 78% và 30%[2].

Chấn thương do ngã làm gia tăng chi phí điều trị, khởi đầu chỉ từ biến cố gãy xương do ngã nhưng sau đó dẫn đến hàng loạt biến chứng nghiêm trọng: viêm phổi bệnh viện, loét tỳ đè, teo cơ…có thể dẫn tới tử vong [3]. Chấn thương do ngã trên người ĐTĐ thường phức tạp và nặng nề hơn, do bản thân người bệnh ĐTĐ luôn nhiều biến chứng, dễ nhiễm trùng, vết thương lâu liền, kéo dài thời gian điều trị.

Theo một số nghiên cứu, ở bệnh nhân ĐTĐ các yếu tố liên quan làm gia tăng nguy cơ ngã là: tiền sử có ngã, suy giảm chức năng, rối loạn thăng bằng, tiền sử bệnh mạch vành, viêm khớp, thừa cân béo phì, đau cơ xương, trầm cảm, thị lực kém, dùng nhiều  thuốc, bệnh lý thần kinh ngoại biên, liệu pháp insulin, hạ đường huyết… là những yếu tố có liên quan tới tăng nguy cơ ngã ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [1],[4],[5],[6],[7].

Như vậy, ngã là một biểu hiện lâm sàng hay gặp, hậu quả của ngã thường nặng nề hơn đối với người ĐTĐ cao tuổi, nhiều yếu tố liên quan tới ngã cũng chưa được hiểu biết rõ ràng. Ngã có thể phòng tránh được nếu phát hiện được các yếu tố nguy cơ.Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng ngã và các yếu tố liên quan ở BN ĐTĐ cao tuổi. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu: xác định tỷ lệ ngã và các yếu tốliên quan tới ngã trên BN ĐTĐ typ 2 cao tuổi.

2.    ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân khám và điều trị tại Bệnh viện

Lão khoa Trung ương.Tiêu chuẩn lựa chọn: tuổi ≥ 60,gồm 2 nhóm: nhóm có ĐTĐ được chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn của WHO- 2006 [8] và nhóm chứng không mắc ĐTĐ.Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bị biến chứng cấp tính nặng: hôn mê nhiễm toan ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, hôn mê do tai biến mạch máu não, đợt cấp mất bù của suy tim, suy gan hoặc bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có nhóm đối chứng.

2.3. Các biến số nghiên cứu

2.3.1Các biến số về thông tin chung:Tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI), HbA1C, thuốc hạ đường huyết, biến chứng thần kinh ngoại vi, tiền sử bệnh (tai biến mạch não – TBMN).

2.3.2. Tình trạng ngã và nguy cơ ngã:

Định nghĩa ngã theo WHO: “Ngã là trạng thái người bệnh vô tình bị rơi xuống mặt đất, nền nhà hoặc các mặt phẳng khác” [9]. Xác định tình trạng ngã bằng bộ câu hỏi: số lần ngã trong 1 năm (12 tháng) vừa qua, ngã nhiều lần được xác định khi có ≥ 2 lần ngã/1 năm. Nguy cơ ngã được tính theo thang điểm Fall Risk Index của Toba Kikuchi, gồm 21 câu hỏi, đánh giá trả lời có hoặc không. Mỗi câu trả lời có được tính 1 điểm. Tổng điểm tối đa là 21 điểm, nếu bệnh nhân có ≥ 10 điểm được đánh giá là có nguy cơ ngã cao [10].

2.3.3.  Đánh giá hoạt động thể chất và trầm cảm

Đánh giá khả năng độc lập bằng bảng  đánh giá hoạt động chức năng hàng ngày (Activities of Daily Living – ADL), tổng điểm tối đa là 6 điểm, điểm càng thấp thì mức phụ thuộc càng cao. Đánh giá trầm cảm bằng thang điểm Geriatric Depression Scale 15- items (GDS-15), tổng điểm tối đa: 15 điểm, tổng điểm GDS-15 càng cao thì nguy cơ bị trầm cảm càng cao.

2.3.4. Hạ đường huyết

Bệnh nhân được phỏng vấn và ghi nhận có hạ đường huyết khi có các triệu chứng hệ thần kinh giao cảm: hồi hộp, run tay, lo lắng, bứt rứt, toát mồ hôi, đói bụng, dị cảm..; hệ thần kinh trung ương: mệt mỏi, chóng mặt, mờ mắt, cư xử bất thường, mất ý thức, co giật, hôn mê; các triệu chứng hồi phục nhanh sau khi ăn glucose hoặc sucrose [11]. Phỏng vấn bệnh nhân và ghi nhận số lần hạ đường huyết trong vòng 1 năm qua.

2.4. Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin về đối tượng và các xét nghiệm được thu thập thông qua phỏng vấn theo bộ câu hỏi thống nhất, khám lâm sàng, xét nghiệm, thực hiện các test đánh giá và tham khảo trong hồ sơ quản lý bệnh tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.

2.5. Xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm thống kê y học SPSS 22.0. Xác định các tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn. So sánh sự khác biệt của các tỷ lệ % theo test khi bình phương và so sánh giá trị trung bình của các nhóm theo t-test với mức khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện trên 190 BN  cao tuổi có ĐTĐ và 120 BN không có ĐTĐ. Không có sự khác biệt về tuổi, giới, BMI, huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trương (HATTR) giữa 2 nhóm.Nhóm ĐTĐ cao tuổi có độ tuổi trung bình là 72,8 ± 8,2, BMI trung bình: 22,3 ± 3,59 (kg/m2), HbA1C trung bình: 7,68 ± 1,98 (%).

Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ ngã ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi

Biểu đồ 1. Tỷ lệ ngã bất kỳ và ngã nhiều lần trong một năm qua ở 2 nhóm có và khôngcó ĐTĐ

Tỷ lệ ngã ở nhóm ĐTĐ cao tuổi là: 44,7%, cao hơn so với nhóm không có ĐTĐ (32,5%), sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0.032).

3.3. Các yếu tố nguy cơ liên quan tới ngã trên BN ĐTĐ cao tuổi

Bảng 2. Các yếu tố liên quan tới Ngã trên BN ĐTĐ cao tuổi 


Tỷ lệ ngã có liên quan tới các yếu tố: nam giới, BMI thấp hơn, suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày (điểm ADL thấp), điểm Fall risk index cao. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.Không có sự khác biệt về giá trị trung bình của HbA1C, tỷ lệ biến chứng thần kinh ngoại vi, tỷ lệ điều trị insulin, tỷ lệ hạ đường huyết giữa 2 nhóm ĐTĐ cao tuổi có ngã và không có ngã.

3.4. Các yếu tố liên quan đến tình trạng ngã nhiều lần ở BN ĐTĐ cao tuổi

Bảng 3.Các yếu tố liên quan đến tình trạng ngã nhiều lần ở BN ĐTĐ cao tuổi

Các yếu tố có liên quan với tăng tỷ lệ ngã nhiều lần trên BN ĐTĐ cao tuổi là: (suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày (điểm ADL), điểm Fall Risk Index cao, tình trạng trầm cảm, liệu pháp điều trị insulin, hạ đường huyết. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

4.    BÀN LUẬN

Trong    nghiên    cứu    của    chúng    tôi, nhóm ĐTĐ cao tuổi có tuổi trung bình là  72,8 ±  8,2,  BMI  trung bình: 22,3  ±  3,59,  HATT trung bình: 128,1 ± 14,05, HATTR trung  bình: 77,8± 14,05 (Bảng 1). Không có sự  khác biệt về tuổi, giới, BMI, HATT, HATTR giữa 2 nhóm có ĐTĐ và không có ĐTĐ. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Chiba và cộng sự (2015) [1].

Nghiên cứu thực hiện trên 310 BN cao tuổi gồm 190 BN có ĐTĐ và 120 BN không có ĐTĐ, kết quả cho thấy tỷ lệ ngã trong một năm trước ở nhóm có ĐTĐ cao hơn so với nhóm không có ĐTĐ (44,7 % với 32,5%, p = 0.032). Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu khác: Chiba. Y và cộng sự (2015) cho thấy tỷ lệ ngã ở nhóm bị ĐTĐ là 36,9%, cao gấp đôi so với nhóm không bị ĐTĐ là 18,6% [1]. Theo nghiên cứu của Yang Yu (2016) cho thấy: tỷ lệ ngã ở bệnh nhân bị ĐTĐ và không bị ĐTĐ tương ứng là 25% và 18,2% (p<0,05) [12].

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa giới nam và BMI với tăng tỷ lệ ngã trên bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi. Nghiên cứu của Chiba (2015) cho thấy không có mối liên  quan giữa giới, BMI với tình trạng ngã [1]. Nghiên cứu của Yau và Azidah cho thấy: tuổi cao (≥75), giới nữ làm tăng nguy cơ ngã và chấn thương do ngã phải nhập viện [14],[15]. Theo Volpato S,tình trạng thừa cân (BMI: 25- 29,9) có mối liên quan độc lập làm tăng nguy cơ ngã nhiều lần [4]. Sự khác biệt về kết quả của chúng tôi có thể do nghiên cứu trên đối tượng người cao tuổi, có sự khác biệt về chủng tộc và thể trạng.Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận các yếu tố: suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày (ADL), nguy cơ ngã cao (điểm Fall risk index cao) có liên quanvới tăng tỷ lệ ngã ở BN ĐTĐ cao tuổi. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Chiba (2015): điểm Fall risk index cao, điểm ADL thấp có liên quan tăng tỷ lệ ngã [1]. Theo Pijpers. E(2012), các yếu tố làm tăng nguy cơ ngã là giảm hoạt động thế chất và  sức cơ, ADL ở mức hạn chế nhiềuvà suy giảm nhận thức [13].

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các  yếu tố có liên quan tới tình trạng ngã nhiều lần trên bệnh nhânĐTĐ cao tuổi là: suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày, nguy cơ ngã cao, tình trạng trầm cảm, liệu pháp điều trị insulin, tiền sử hạ đường huyết (p<0,05). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Chiba (2015), trong nhóm bệnh nhân bị ĐTĐ, hạ đường huyết có mối liên quan với tình trạng ngã. Hạ đường huyết, suy giảm nhận thức, và điểm Fall Risk Index cao có mối liên quan độc lập với tình trạng ngã nhiều lần [1].

Như vậy điều trị bằng insulin và hạ đường huyết là 2 yếu tố nguy cơ liên quan tới tăng tình trạng ngã nhiều lần ở BN ĐTĐ cao tuổi. Kết quả này cũng phù hợp một số nghiên cứu khác.Nghiên cứu của Johnston S và cộng sự (2012) về mối liên quan giữa hạ đường huyết với gãy xương liên quan tới ngã ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 trên 65 tuổi. Kết quả: trong số 361.210 bệnh nhân, có 16.936 trường hợp bị các cơn hạ đường huyết. Bệnh nhân bị hạ đường huyết có tỉ lệ gãy xương liên quan tới ngã cao hơn so với nhóm không bị hạ đường huyết [5].Volpato S(2005) nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của ngã ở phụ nữ cao tuổi bị ĐTĐ. Kết quả cho thấy tỷ lệ ngã là 26,5%; các yếu tố liên quan tới ngã là: đau cơ xương, liệu pháp insulin, thừa cân, điểm đánh giá hoạt động thể chất thấp [7].

Do đó, việc kiểm soát đường huyết trên BN ĐTĐ cao tuổi cần phải chú ý, tránh tình trạng hạ đường huyết, cân nhắc liệu pháp insulin, từ đó giúp giảm tình trạng ngã nhiều lần ở nhóm BN ĐTĐ cao tuổi.

5.    KẾT LUẬN

Đái tháo đường làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi.Các yếu tố làm tăng tỷ lệ ngã ở người ĐTĐ cao tuổi là: Suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày, điểm Fall Risk Index cao. Đặc biệt các yếu tố liên quan tới tăng tình trạng ngã nhiều lần (tái ngã) là: liệu pháp insulin, tiền sử hạ đường huyết, suy giảm hoạt động chức năng hàng ngày và tình trạng trầm cảm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Y,    et    al.,    Risk     factors associated with falls in elderly patients with type 2 diabetes. Journal  of Diabetes and Its Complications, 2015. 29(7): p. 898-902.
  1. Maurer M. S, Burcham J, and Cheng H, Diabetes mellitus is associated with an increased risk of falls in elderly residents of a long-term care facility. J Gerontol A Biol Sci Med Sci, 2005. 60(9): p. 1157-62.
  2. Rubenstein L. Z, Falls in older people: epidemiology, risk factors and strategies for prevention. Age Ageing, 2006. 35 Suppl 2: p. ii37-ii41.
  3. Volpato S, Leveille S. G, and Blaum C, Risk Factors for Falls in Older Disabled Women With Diabetes: The Women’s Health and Aging Study. Journal of Gerontology, 2005. 60A(12): p. 1539–1545.
  4. Johnston S. S, et al., Association between hypoglycaemic events and fall- related fractures in Medicare-covered patients with type 2 diabetes. Diabetes Obes Metab, 2012. 14(7): p. 634-43.
  5. , N.J., D. K., and C.P. F., The relationship between glycemic control and falls in older adults. J Am Geriatr Soc, 2007. 55(12): p. 2041-4.
  6. R, M.,Falls Injuries and Type 2 Diabetes: Background and Future Directions. Austin J Endocrinol Diabetes, 2014. 1(4): p.
  7. Organization, W.H. Definition and diagnosis of diabetes mellitus and intermediate hyperglycemia. 2006; Available from: http://www.who.int/diabetes/publications /diagnosis_diabetes2006/en/index.html.
  8. WHO. Global report on falls Prevention in older Age. 2007.
  9. Toba K, Kikuchi R, and Iwata A, “Fall Risk Index” Helps Clinicians Identify High-risk Individuals. journal of the Japan Medical Association 2009. 52(4): p. 237 –
  10. ADA, Defining and reporting hypoglycemia in diabetes: a report from the American Diabetes Association Workgroup on Hypoglycemia. Diabetes Care, 2005. 28(5): p. 1245-9.
  11. Yu, et al., Diabetes mellitus and risk of falls in older adults: a systematic review and meta-analysis. Age and ageing, 2016. 45(6): p. 761-767.
  12. E, Ferreira. I, and d.J.R. T. Older individuals with diabetes have an increased risk of recurrent falls: analysis of potential mediating   factors:            the Longitudinal Ageing Study Amsterdam,” 2012;           Available                  from: https://academic.oup.com/ageing/article- lookup/doi/10.1093/ageing/afr145.
  13. Yau R. K, et al., Diabetes and risk of hospitalized fall injury among older adults. Diabetes Care, 2013. 36(12): 3985-91.
  14. A. K, Hasniza. H, and Zunaina. E, Prevalence of Falls and Its Associated Factors among Elderly Diabetes in a Tertiary Center, Malaysia. Curr Gerontol Geriatr Res, 2012. 2012: p. 539073.
  15. Schwartz A. V, et al., Diabetes-related complications, glycemic control, and falls in older adults. Diabetes Care, 2008. 31(3): p. 391-6.
Print Friendly, PDF & Email

About Hội Nội tiết & Đái tháo đường Miền Trung

Check Also

Quản lý đái tháo đường trong đại dịch COVID-19 – GS.TS Nguyễn Hải Thủy

Chia sẻ bài viết