Tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2022

Chia sẻ bài viết

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2022

Nguyễn Thị Ngọc Ngoan1, Phạm Thị Kim Yến1*,

Nguyễn Đào Tuấn Kiệt 1

1Trường Đại học Trà Vinh

DOI: 10.47122/vjde.2022.57.12

ABSTRACT

Treatment compliance in people with type 2 diabetes of Tien Giang Central General Hospital in 2022

Objective: Determine the ratio of adherence to treatment in patients with type 2 diabetes at Tien Giang Central General Hospital in 2022. Methods: A cross-sectional study of 225 patients with type 2 diabetes at Tien Giang Central General Hospital in 2022. The study was conducted by face–to–face interviews combined with retrospective medical records. Research time: From April 2022 to October 2022. Results: The practice of diabetes treatment adherence: medication adherence (76.89%), dietary adherence (72.00%), exercise adherence (31.56%). However, the percentage of study subjects who fully comply with the above 3 components is not high, only about 20.00%. The study also found a correlation between overall treatment adherence with gender, age group, education level, and the number of comorbidities of patients with type 2 diabetes (p<0.05). Conclusion: The adherence rate is quite low. It is needed to improve consultation on diabetes treatment adherence to patients.

Keywords: Treatment adherence, Type 2 diabetes, Tien Giang Central General Hospital

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ở người bệnh Đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2022. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 225 bệnh nhân Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2022. Nghiên cứu tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt kết hợp với ghi nhận từ

hồ sơ bệnh án. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2022. Kết quả: Tuân thủ điều trị Đái tháo đường của đối tượng nghiên cứu: tuân thủ dùng thuốc chiếm (76,89%), tuân thủ dinh dưỡng (72,00%) và tuân thủ thể lực (31,56%). Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tuân thủ đủ cả 3 thành phần trên chưa cao chỉ chiếm khoảng 20,00%. Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan tuân thủ điều trị chung với giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và số lượng bệnh kèm theo của người bệnh nhân Đái tháo đường type 2 (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị còn khá thấp cần tăng cường hơn nữa việc tư vấn điều trị cho bệnh nhân Đái tháo đường type 2.

Từ khóa: Tuân thủ điều trị, Đái tháo đường type 2, Bệnh Viện Đa Khoa Trung Tâm Tiền Giang.

Tác giả liên hệ: Phạm Thị Kim Yến

Email: yenphamytcc@tvu.edu.vn

Ngày nhận bài: 15/9/2022

Ngày phản biện khoa học: 15/10/2022

Ngày duyệt bài: 5/11/2022

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường là một bệnh mãn tính gây rối loạn chuyển hóa, và có tỷ lệ mắc ngày càng tăng thường gặp ở các nước phát triển và đang phát triển [1]. Thống kê của tổ chức y tế thế giới năm 2019 tổng số ca tử vong do đái tháo đường là 1,5 triệu từ 18 đến 70 tuổi và chiếm 48% trong tổng số ca tử vong do mắc đái tháo đường trước 70 tuổi [11], tại Việt Nam theo thống kê của Bộ Y tế năm 2017 hiện có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh Đái tháo đường [1]. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), thuốc và thay đổi lối sống là hai yếu tố vô cùng quan trọng để kiểm soát bệnh Đái tháo đường. Trên thực tế việc tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao, ở các nước đang phát triển trung bình chỉ khoảng dưới 50% [12]. Đái tháo đường gây ra một loạt các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và xã hội. Vì vậy, bệnh Đái tháo đường cần được theo dõi, điều trị đúng, đủ, thường xuyên và kéo dài đến hết cuộc đời.

Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang nơi khám và điều trị cho hàng trăm bệnh nhân đái tháo đường hằng ngày, nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu cho thấy rõ sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang. Để từ đó phát hiện và phòng ngừa sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình điều trị bệnh và giảm tỷ lệ biến chứng trên bệnh nhân hợp lý.

Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang để đề ra các biện pháp giáo dục sức khỏe giúp bệnh nhân tuân thủ tốt hơn, đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết do Bộ Y tế đề ra.

1.  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1   Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

1.2.   Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân Đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang (tại thời điểm nghiên cứu).

1.3.   Cỡ mẫu

Nghiên cứu cắt ngang trên 225 bệnh nhân Đái tháo đường type 2 đến khám tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang vào tháng 4/2022 – 10/2022. Cỡ mẫu được tính dựa vào công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ (p=0,277 [2]) và cộng thêm 5% mất mẫu, cho nên cỡ mẫu là 225 đối tượng.

1.4.   Phương pháp chọn mẫu (Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện)

Bước 1: Chọn các đối tượng đã được chẩn đoán mắc bệnh Đái tháo đường type 2 và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang

  • Bước 2: Mời bệnh nhân Đái tháo đường type 2 đã được chẩn đoán có đủ tiêu chí vào tham gia nghiên cứu.
  • Bước 3: Tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn.

1.5.    Phương pháp phân tích dữ liệu

Nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm STATA. Các biến số được trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ (%). So sánh các tỷ lệ bằng test chi bình phương (X2), tính PR, khoảng tin cậy 95% và chọn p < 0,05 là mức có ý nghĩa thống kê.

1.6. Thu thập số liệu

Thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp dựa vào bộ câu hỏi soạn sẵn. Sử dụng các thang đo để đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân:

  • Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá bằng thang đo MMAS-8 (8 câu hỏi), điểm kết quả từ tổng của tất cả các câu trả lời đúng, mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm. Tổng điểm MMAS-8 ≥ 6 điểm thì đối tượng được phân loại là có tuân thủ dùng thuốc và khi tổng điểm MMAS-8 < 6 điểm thì đối tượng được phân loại là không tuân thủ dùng thuốc [8].
  • Tuân thủ dinh dưỡng được đánh giá dựa trên thang đo PDAQ đối tượng sẽ được yêu cầu trả lời về 9 câu hỏi trong 7 ngày vừa qua họ đã ăn uống như thế nào. Tổng điểm PDAQ 5 điểm thì đối tượng được phân loại là có tuân thủ dinh dưỡng và khi tổng điểm PDAQ 5 điểm thì đối tượng được phân loại là không tuân thủ dinh dưỡng [9].
  • Thang đo tuân thủ hoạt động thể lực IPAQ-SF gồm 11 câu hỏi được phân loại theo các hoạt động: hoạt động thể lực mạnh, hoạt động thể lực trung bình, đi bộ, ngồi và được đo lường bằng MET phút/tuần (MET = 8*thời gian hoạt động mạnh + 4*thời gian hoạt động trung bình + 1,3*thời gian đi bộ), bệnh nhân tuân thủ khi đạt ít nhất 600 MET phút/tuần theo khuyến cáo của WHO [10].

2.  KẾT QUẢ

Trong nghiên cứu, tỷ lệ chênh lệ giới tính của đối tượng tham gia nghiên cứu không quá lớn nữ (58,22%) và nam (41,78%). Tất cả các đối tượng tham gia là người dân tộc kinh (100%). Và phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 60 trở lên chiếm 76,44%. Có 93,33% đối tượng nằm trong nhóm kinh tế trung bình khá trở lên. Về trình độ học vấn, phần lớn đối tượng có trình độ trung học cơ sở (36,89%) và Trung học phổ thông (35,11%) chỉ có 7,56% là trình độ trung học phổ thông trở lên. Phần lớn đối tượng sống ở nông thôn (68,00%).

Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nội trợ (25,78%), Nông dân (13,33%) và già/nghỉ hưu (44,00%).

Có thể là do đa số đối tượng tham gia nghiên cứu là từ 60 tuổi nên chủ yếu đối tượng làm việc tại nhà nên nghề nghiệp nội trợ hoặc già/nghỉ hưu là chính.

Còn về tình trạng hôn nhân thì đa số người bệnh đã kết hôn (72,89%) chỉ một số ít người bệnh còn độc thân (6,67%).

Hầu như người bệnh tham gia nghiên cứu đều có người chăm sóc chiếm khoảng 92,44%.

Phần lớn người bệnh Đái tháo đường type 2 có thời gian mắc bệnh trên 5 năm chiếm 66,22%. Đa số đối tượng tham gia đều có bệnh kèm theo chiếm khoảng 75,56%. Hầu như bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có thực hiện khám sức khỏe định kỳ thường xuyên 1 tháng/lần chiếm 88,44%.

Kết quả nghiên cứu các thành phần tuân thủ điều trị Đái tháo đường của đối tượng nghiên cứu tương đối cao: tuân thủ dùng thuốc (76,89%), tuân thủ dinh dưỡng (72,00%), tuân thủ thể lực (31,56%). Đối tượng nghiên cứu tuân thủ đủ cả 3 thành phần (tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ dinh dưỡng, tuân thủ thể lực) chiếm tỷ lệ tương đối thấp (20,00%).

** Kiểm định khuynh hướng

Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan giữa tuân thủ điều trị chung với giới tính và nhóm tuổi của người bệnh nhân Đái tháo đường type 2 (p<0,05). Trong đó, nam giới có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao gấp 2,53 lần (KTC 95%: 1,46-4,38) so với nữ giới. Bên cạnh đó, nhóm bệnh nhân Đái tháo đường type 2 có độ tuổi dưới 60 tuổi có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn nhóm từ 60 tuổi trở lên gấp 2,37 lần (KTC 95%: 1,43 – 3,93). Ngoài ra, kết quả còn tìm thấy mối liên quan có tính khuynh hướng giữa tuân thủ điều trị với rình độ học vấn, cụ thể khi nhóm tuổi tăng 1 đơn vị, tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng 1,58 lần (KTC 95%: 1,12 – 2,21). Trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ tuân thủ điều trị càng cao. Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan có tính khuynh hướng giữa tuân thủ điều trị với số lượng bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu, cụ thể khi số lượng bệnh kèm giảm 1 đơn vị, tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng 1,72 lần (KTC 95%: 1,16-2,57). Số lượng bệnh kèm càng ít, tỷ lệ tuân thủ điều trị càng cao.

3.  BÀN LUẬN

3.1.  Tuân thủ điều trị của bệnh nhân Đái tháo đường

3.1.1.  Tuân thủ dùng thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 76,89% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc theo thang đo MMAS-8. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận một tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc khá cao như Lê Thị Nhật Lệ (2017) với tỷ lệ 70,8% [5], Lâm Quang Điểm (2019) thực hiện tại Trà Vinh với tỷ lệ 82,1% [2]. Điều này cho thấy người bệnh nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ dùng thuốc, ngoài ra đa phần người bệnh có tâm lý an tâm khi được dùng thuốc hơn các biện pháp điều trị khác.

3.1.2 Tuân thủ dinh dưỡng

Qua khảo sát kết quả cho thấy có 72,00% đối tượng nghiên cứu có tuân thủ chế dinh dưỡng theo thang đo PDAQ.

Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Lâm Quang Điểm (2019) tại Trà Vinh 61,5% và Lưu Thị Hạnh (2015) thực hiện tại Hà Nội có tỷ lệ là 11,3% [2], [4]. Phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu là người ≥ 60 tuổi mà càng nhiều tuổi thì các chức năng trong cơ thể càng bị suy giảm, trong đó liên quan đến chán ăn là do các giác quan không nhanh nhạy như lúc còn trẻ cho nên không gây cảm giác hứng thú khi ăn. Vì vậy nhân viên y tế cần phải chú trọng hơn nữa công tác tư vấn chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân và từ phía gia đình của bệnh nhân trong việc giám sát chế độ ăn của họ.

3.1.3.  Tuân thủ hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực thường xuyên góp phần quan trọng việc kiểm soát đường huyết làm giảm nguy cơ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm. Nghiên cứu kết quả cho thấy chỉ có 31,56% bệnh nhân tuân thủ hoạt động thể lực (HĐTL) ít nhất 600 MET phút/tuần theo khuyến cáo của WHO.

Kết quả này thấp hơn nghiên cứu Lâm Quang Điểm tại Bệnh viện đa khoa Trà Vinh (2019) với tỷ lệ 42,1% [2]. Đa số đối tượng tham gia nghiên cứu là người lớn tuổi từ 60 tuổi trở lên (76,44%) và mắc nhiều bệnh mãn tính đi kèm (75,56%) nên tỷ lệ hoạt động thể lực tương đối thấp.

3.1.4.   Tuân thủ điều trị Đái tháo đường chung

Kết quả đối tượng tuân thủ đủ cả 3 thành phần: tuân thủ dùng thuốc, dinh dưỡng và thể lực tương đối thấp chỉ20,00%. Kết quả này tương đương với kết quả Nguyễn Thị Kim Thoa (2015) tại Bến Tre với kết quả là 20% [7]. Nhưng lại thấp so với Phan Thị Diệu Ly (2017) với tỷ lệ là 33,3% [6] và Lâm Quang Điểm tại Bệnh viện đa khoa Trà Vinh (2019) với tỷ lệ 27,7% [2]. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu lại cao hơn nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang (2013) tại Bệnh viện 198 với tỷ lệ tuân thủ điều trị chung chỉ chiếm 10% [3].

3.2.   Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị đái tháo đường

Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ điều trị chung với đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu, nam giới có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao gấp 2,53 lần so với nữ giới. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không có sự tương đồng với nghiên cứu Phan Thị Diệu Ly [6] và Lâm Quang Điểm [2]. Sự khác nhau này có thể là nam giới họ vận động thể lực bằng cách đi làm việc, công việc của họ có thể nặng hơn nữ giới hoặc là theo xu hướng nam giới thường là trụ cột trong gia đình nên thường phải đi làm kiếm tiền nhiều hơn thay vì nữ giới ở nhà làm nội trợ. Kết quả còn tìm thấy mối liên quan có tính khuynh hướng giữa tuân thủ điều trị với rình độ học vấn, cụ thể khi nhóm tuổi tăng 1 đơn vị, tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng 1,58 lần (KTC 95%: 1,12 – 2,21) điều này có thể nói rằng những người có trình độ học vấn càng cao thì khả năng tuân thủ điều trị càng cao.

Nhưng kết quả nghiên cứu chưa tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lâm Quang Điểm năm 2019 [2]. Bệnh nhân có trình độ học vấn càng cao càng biết được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị ĐTĐ nên thường tuân thủ tốt hơn.

Nghiên cứu ghi nhận người có độ tuổi dưới 60 tuổi có tuân thủ điều trị cao gấp 2,37 lần so với nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên. Kết quả nghiên cứu không có sự tương đồng với nghiên cứu của Lâm Quang Điểm năm 2019 [2]. Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn và do đang khám tại phòng khám nên đối tượng nghiên cứu chưa thẳng thắn trả lời các câu hỏi phỏng van. Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan có tính khuynh hướng giữa tuân thủ điều trị với số lượng bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu, cụ thể khi số lượng bệnh kèm giảm 1 đơn vị, tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng 1,72 lần (KTC 95%: 1,16 – 2,57). Số lượng bệnh kèm theo càng ít, tỷ lệ tuân thủ điều trị càng cao. Kết quả này chưa tương đối với nghiên cứu Phan Thị Diệu Ly năm 2017 [6]. Mắc nhiều bệnh kèm theo cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vận động của bệnh nhân dẫn đến ảnh hưởng tình trạng tuân thủ điều trị chung ở những người có số lượng bệnh kèm theo từ 2 bệnh trở lên.

4.  KẾT LUẬN

Qua khảo sát trên 225 người bệnh Đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang trong năm 2022 cho kết quả các thành phần tuân thủ điều trị Đái tháo đường của đối tượng nghiên cứu tương đối cao khi thực hiện tuân thủ dùng thuốc (76,89%) và tuân thủ dinh dưỡng (72,00%). Tuy nhiên, đối tượng thực hiện việc tuân thủ thể lực còn rất thấp chiếm 31,56%. Do đó, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tuân thủ đủ cả 3 thành phần trên còn thấp chỉ chiếm 20,00%. Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan tuân thủ điều trị chung với giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và số lượng bệnh kèm theo của người bệnh nhân Đái tháo đường type 2 (p<0,05).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Y tế (2017), “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tiểu đường“, Cục quản lý khám chữa bệnh, pp. 13.
  2. Lâm Quang Điểm và Phạm Thị Kim Yến (2019), “Sự tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân Đái tháo đường đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2019”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Trà Vinh.
  3. Lê Thị Hương Giang (2013 ), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện 198 năm 2013″, Trường ĐHYT công cộng.
  4. Lưu Thị Hạnh (2015), “Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nội 2 Bệnh viện Xanh Pôn”, Trường Đại học Thăng Long.
  5. Lê Thị Nhật Lệ (2017), “Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân Đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm.
  6. Phan Thị Diệu Ly (2017), ” Tỷ lệ tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất năm”.
  7. Nguyễn Thị Kim Thoa (2015), ” Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở ngươi bệnh ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại BVĐK Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2015“,.

Alfredo Dias Oliveira-Filho and et al (2011), “Association between the 8-item Morisky Medication Adherence Scale-8 and Blood Pressure Control Universidade Federal de Sergipe,SE – Brazil.

 

Print Friendly, PDF & Email

About dacdien

Check Also

Nhiều chế độ ăn, một nguyên lý dinh dưỡng

Chia sẻ bài viếtNHIỀU CHẾ ĐỘ ĂN, MỘT NGUYÊN LÝ DINH DƯỠNG!       …